vanban.org

Bản án 88/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vương Minh Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Vương Minh Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-8-2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 - Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Minh Tr bị truy tố tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vương Minh Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2017/HS-ST
Ngày 04/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Thái Kim Thành

2. Bà Trần Ánh Nhạn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Nhà Văn hóa ấp PĐ B, xã PĐ, huyện GD, tỉnh TN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2017/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2017/QĐXXST-HS ngày 24-10-2017 đối với bị cáo:

Vương Minh Tr (B); sinh năm 1969; tại huyện TB, tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu và nơi cư trú: Ô4, khu phố TB A, thị trấn GD, huyện GD tỉnh TN; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vương Văn C (chết) và bà Đổng Thị Kim S (chết); vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: Không có; tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-8-2017.

Bị cáo có mặt.

- Người bị hại: Chị Vương Thị L; sinh năm: 1968, ( có mặt),

Anh Trịnh Văn T; sinh năm: 1960, (vắng mặt).

Cùng trú tại: Ô4, khu phố TB A, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Vương Minh Tr bị Viện kiểm sát nhân dân huyện GD truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 28-7-2017, sau khi đã uống rượu, Vương Minh Tr đi về nhà của chị Vương Thị L là chị ruột của Tr ở Ô4, khu phố TB A, thị trấn GD để ngủ, do Tr sống chung nhà với chị L. Lúc này, Tr không thấy chị L và chồng là anh Trịnh Văn T ở nhà nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền của chị L, anh T để tiêu xài và đánh bạc. Tr lấy 01 cây tua vít trong thùng đựng đồ nghề của anh T, để cạy cửa hộc tủ đựng quần áo của chị L lấy 40.000.000 đồng, rồi đi qua Campuchia đánh bạc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, chị L về nhà phát hiện tiền bị mất nên kêu em ruột tên Vương Minh Ú và cháu tên Huỳnh Vương T’ đi tìm Tr. Sau đó, anh Ú và anh T’ qua Casino, Campuchia gặp Tr kêu Tr trả tiền lại cho chị L thì Tr nói đã đánh bạc thua 13.100.000 đồng, còn lại 26.900.000 đồng Tr đưa cho anh Ú và anh T’ đem về trả lại cho chị L. Đến ngày 16-8-2017, Tr đến Công an huyện GD đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cây tua vít dài 19,5 cm, cán dạng ống tròn bằng kim loại bọc nhựa màu đỏ đen dài 10,5cm, đường kính 2,5cm, thân tua vít dạng ống tròn bằng kim loại dài 8cm, đường kính 0,8cm, mũi bằng kim loại đầu dẹp dài 1cm;

- Tiền Việt Nam 26.900.000 đồng, đã trả lại cho chị L.

Về bồi thường thiệt hại: Chị L không yêu cầu bồi thường và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Tr.

Tại bản Cáo trạng số: 84/QĐ/KSĐT ngày 06-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, đã truy tố bị cáo Vương Minh Tr về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 - Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vương Minh Tr từ 18 – 24 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 41- Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Biết ăn năn hối cải, xin giãm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GD trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 28-7-2017 tại nhà của chị L ở Ô4 khu phố TB A, thị trấn GD, Vương Minh Tr đã lợi dụng sơ hở của chị L anh T đã lén lút lấy 01 cây tua vít cạy cửa hộc tủ đựng quần áo của chị L lấy trộm số tiền 40.000.000 đồng đi qua Campuchia đánh bạc, khi người nhà tìm gặp thì Tr còn lại 26.900.000 đồng gửi trả lại cho chị L.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vương Minh Tr thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với cáo trạng truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi của bị cáo Vương Minh Tr xét thấy có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo có tính tham lam ích kỹ cá nhân, không chịu lao động lương thiện để sinh sống, mà lại muốn hưởng thụ trên công sức lao động của người khác, bất chấp pháp luật nên dẫn bị cáo đến con đường phạm tội. Do đó cần phải xử nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giãm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giãm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và chị L làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Tr. Đây là những tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 - Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ: 01 cây tua vít dài 19,5 cm, cán dạng ống tròn bằng kim loại bọc nhựa màu đỏ đen dài 10,5cm, đường kính 2,5cm, thân tua vít dạng ống tròn bằng kim loại dài 8cm, đường kính 0,8cm, mũi bằng kim loại đầu dẹp dài 1cm là vật chứng dùng để thực hiện tội phạm, là của anh T, nhưng anh T không yêu cầu trả lại, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

- Tiền Việt Nam 26.900.000 đồng, đã trả lại cho chị L xong, nên không xem xét.

Về bồi thường thiệt hại: Chị L và anh T không yêu cầu bồi thường số tiền 13.100.000 đồng nên ghi nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên .

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Vương Minh Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 - Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Vương Minh Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-8-2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 - Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây tua vít dài 19,5 cm, cán dạng ống tròn bằng kim loại bọc nhựa màu đỏ đen dài 10,5cm, đường kính 2,5cm, thân tua vít dạng ống tròn bằng kim loại dài 8cm, đường kính 0,8cm, mũi bằng kim loại đầu dẹp dài 01cm. (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện GD đang quản lý).

- Trả lại cho chị L tiền Việt Nam 26.900.000 đồng xong.

- Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận chị L và anh T không yêu cầu bồi thường số tiền 13.100.000 đồng.

- Án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Vương Minh Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ