- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "vô hiệu HĐ lao động"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều D về việc: "Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1.
- Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 87/2025/LĐ-ST Ngày: 12 – 5 – 2025 V/v “Vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Lin;
2. Bà Nguyễn Thị Rạt.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 199/2024/TLST - LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-LĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐ-HPT ngày 25/4/2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1990; Địa chỉ: Â, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (xin văng mặt).
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 (gọi tắt là Công ty L1);
Địa chỉ trụ sở: Đường số C, Khu công nghiệp X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: Pua K- Chức vụ Giám đốc (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bảo hiểm xã hội tỉnh L; Địa chỉ trụ sở: Số H, T, phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành L - Phó Giám đốc (xin vắng mặt).
3.2. Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D trình bày:
Do không am hiểu quy định pháp luật nên vào năm 2009 bà có cho bà Nguyễn Kim N mượn giấy chứng minh nhân dân do bà đứng tên để xin việc làm tại Công ty TNHH L1; địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp X, xã M, huyện Đ, Long An. Bà N có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo sổ bảo hiểm xã hội mã số 8009034489 người đứng tên trong sổ là Nguyễn Thị Kiều D, bà N làm việc trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010, thì bà Kim N nghỉ việc.
Trong khi đó, từ tháng 01 đến tháng 02/2010, bà xin vào làm việc tại Công ty T1, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và được cấp sổ bảo hiểm xã hội mã số 8010004730.
Đến tháng 4 năm 2010, bà xin vào làm việc tại Công ty L1, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và được cấp sổ bảo hiểm xã hội số 8010011453 và làm việc cho đến nay.
Do vậy, hiện nay tồn tại 02 sổ bảo hiểm xã hội số 8009034489 và số 8010004730 cùng mang tên Nguyễn Thị Kiều D (trùng thời gian tham gia BHXH từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010) nên bà Kiều D không thể thực hiện việc chốt sổ và lãnh bảo hiểm được. Do đó bà Kim D1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1/ Tuyên vô hiệu hợp đồng lao động lập giữa bà Nguyễn Thị Kiều D (người lao động thực tế là Nguyễn Kim N từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2010) với Công ty TNHH L1.
2/ Điều chỉnh tên ghi trên số bảo hiểm xã hội mã số 8009034489 từ tên Nguyễn Thị Kiều D sang tên Nguyễn Kim N tham gia lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2010.
Đối với Công ty TNHH L1: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, người đại diện theo pháp luật của Công ty không đến tòa theo giấy triệu tập, không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim N vắng mặt nhưng tại bản tự khai trình bày: Bà xác nhận có mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Kiều D để xin vào làm việc tại Công ty TNHH L1 từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 và có tham gia bảo hiểm xã hội mã số 8009034489 nhưng thông tin ghi trên hợp đồng lao động và sổ bảo hiểm xã hội là Nguyễn Thị Kiều D. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà D, không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này và đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo qui định pháp luật.
Tại văn bản ngày 31/12/2024, Bảo hiểm xã hội tỉnh L trình bày: Căn cứ vào hồ sơ, dữ liệu quản lý thu, sổ, thẻ và chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty TNHH L1, địa chỉ trụ sở: xã M, Đ, Long An, có tham gia đóng bảo hiểm, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Nguyễn Thị Kiều D từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2010 theo số bảo hiểm xã hội số 8009034489. Qua tra cứu dữ liệu chi trả chính sách BHXH, BHTN tại BHXH tỉnh L đến ngày 26/12/2024, bà D chưa hưởng chế độ BHXH một lần và chưa hưởng BHTN với thời gian đóng BHXH, BHTN như trên.
BHXH tỉnh L không cung cấp được hợp đồng lao động theo đề nghị của Tòa án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Quan điểm Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Tòà án, Thấm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 49 của Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 của Quốc hội Khóa 14, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kiều D (do bà Nguyễn Kim N thực hiện) với Công ty L1, địa chỉ: Khu công nghiệp X, xã M, huyện Đ, Long An, thời gian lao động từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2010; Điều chỉnh tên trên số bảo hiểm xã hội số 8009034489 từ tên Nguyễn Thị Kiều D sang tên Nguyễn Kim N, thời gian lao động từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều D như trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: "Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và Điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội" vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty TNHH L1 có trụ sở tại khu công nghiệp X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Kiều D là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty L1 là người bị kiện được xác định là bị đơn. Bà Nguyên Kim N1 và Bảo hiểm xã hội tỉnh L được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Thời hiệu khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện Công ty L1 vì cho rằng quyền lợi bị xâm phạm do hợp đồng lao động giả tạo nên bà Kiều D có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 190 Bộ Luật lao động năm 2019, Điều 184 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.
Quá trình tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều D có nộp chứng cứ là: số BHXH mã số 8009034489, số 8010004730 và quá trình tham gia bảo hiệm xã hội tại Công ty TNHH T1.
Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.
Bộ luật Lao động để áp dụng giải quyết tranh chấp: Các bên tranh chấp hợp đồng lao động trong thời gian năm 2009 nên Bộ luật Lao động được áp dụng để giải quyết tranh chấp là Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đối, bố sung năm 2002, 2006, 2007). Thời điểm giải quyết tranh chấp thì Bộ luật Lao động năm 2019 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.
Tòa án lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và xét xử vụ án trong phạm vi đương sự yêu cầu.
. Về nội dung:
. Về hợp đồng lao động: Bà Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được giao kết giữa bà Nguyễn Thị kiề D2 (nhưng do bà Nguyễn Kim N là người trực tiếp lao động) với Công ty L1 là vô hiệu. Tuy nhiên, bà Kiều D, bà Kim N không cung cấp được hợp đồng lao động do bị thất lạc. Căn cứ vào văn bản phúc đáp của Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty TNHH L1 có tham gia đóng bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Kiều D từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 theo sổ BHXH mã số 8009034489 nên có căn cứ xác định giữa bà Nguyễn Thị Kiều D với Công ty L1 có giao kết hợp đồng lao động, thời hạn hợp đồng từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2020.
. Xét thấy, bà Nguyễn Thị Kiều D có cho bà Nguyễn Kim N mượn chứng minh nhân dân để giao kết hợp đồng lao động và trực tiếp tham gia lao động, đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 tại Công ty TNHH L1, tham gia BHXH theo sổ BHXH mã số 8009034489. Trong khi đó bà Nguyễn Thị Kiều D tham gia lao động tại Công ty TNHH T1 và tham gia bảo hiểm với sổ bảo hiểm xã hội mã số 801004730 từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 02 năm 2010.
Như vậy có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ tháng 01 đền tháng 02 năm 2010 thì người mang tên Nguyễn Thị Kiều D cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại hai doanh nghiệp là Công ty TNHH L1 và Công ty TNHH T1.
Do đó, việc bà Nguyễn Kim N tham gia trực tiếp lao động với Công ty TNHH L1 nhưng hợp đồng lao động ghi tên Nguyễn Thị Kiều D là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), vi phạm nguyên tắc "trung thực" theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ Luật Lao động, vi phạm các hành vi bị cấm như gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, BHTN theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 nên có cơ sở xác định hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kiêu D3 với Công ty TNHH L1 từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2010 là không có hiệu lực.
Từ các nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều D là có căn cứ nên được chấp nhận.
. Về hậu quả của hợp đồng lao động bị vô hiệu: Do hợp đồng lao động bộ to hiu nên sẽ đều chh tên Nguyên Thi Kiu Dung trên Số bo hiếm xã hội Số 8009034489 trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2009 đên tháng 02 năm 2010 thành tên Nguyễn Kim N.
. Bà Nguyễn Kim N, Công ty TNHH L1 không có tranh chấp gì trong vụ án nên không đề cập xem xét.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về án phí sơ thấm:
Ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Kiều D: tự nguyện chịu án phí lao động sơ thấm sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 184, Điều 186, Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1, khoản 4, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007); Căn cứ Điều 13, khoản 1 Điều 15; Điều 18, Điều 21, Điều 49, Điều 50, Điều 51 và Điều 190 Bộ Luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều D về việc: "Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1.
1.1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kiều D (do bà Nguyễn Kim N là người trực tiếp lao động) với Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010.
1.2. Điều chỉnh tên Nguyễn Thị Kiều D trên số bảo hiểm số 8009034489 trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2009 đền tháng 02 năm 2010 thành tên Nguyễn Kim N tham gia làm việc tại Công ty TNHH L1.
Bà Nguyễn Thị Kiều D và bà Nguyễn Kim N được quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh L để điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội số 8009034489 từ tên Nguyễn Thị Kiều D sang tên Nguyễn Kim N.
2. Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều D tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được chuyển từ tiền tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Kiều D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 6169 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, sang án phí để thi hành.
3. Án xử sơ thấm, tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vằng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật tố tụng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Long An; Đã ký - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Hữu Quốc | Văn Công Thức |