vanban.org

Bản án 87/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 17/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Thị A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tòa tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2018/HS-ST
Ngày: 17/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh V

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Vũ Thị M

Bà: Nguyễn Thị N

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lan C - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận

Đ, thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội tham gia

phiên tòa: Ông Trần Hoàng C - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ, thành

phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97 /2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:

TRẦN THỊ A, sinh năm: 1974, tại: Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường

trú: Thôn A, xã N, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Q; Con bà: Nguyễn Thị Đ; Chồng: Phùng Đức T; Có 02 con sinh năm 1996,1998; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số: 156 do Công an quận Đ lập ngày 20/01/2018; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –Bệnh viện M

Địa chỉ: Số 78 đường P, phường M, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị H- sinh năm : 1984

Trú tại : Số 97 T, quận X, Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h30 ngày 17/7/2017, Trần Thị A vào phòng hành chính tầng 11tòa

nhà 21 của Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –Bệnh viện M để dọn vệ sinh. Lúc này trong phòng có chị Nguyễn Thị H, là nhân viên điều dưỡng. Tại đây, A phát hiện thấy 01 thùng catton in hình chiếc máy in nhãn hiệu canon Laser shot LBP 2900 đang để cạnh thùng rác trong phòng đã nảy sinh mục đích trộm cắp tài sản. Lợi dụng chị H không để ý, A đã bê chiếc thùng catton bên trong có chiếc máy in ra nhà để rác tầng 11 và cất vào đó để hôm sau đến giờ thu rác A sẽ mang máy in ra ngoài đem tiêu thụ. Sau đó A tiếp tục dọn vệ sinh đến 22h thì về. Khoảng 10h ngày 18/7/2018,chị Lại Thị Lệ C là nhân viện dọn vệ sinh phát hiện thấy chiếc máy in để ở khu vực để rác đã báo lại cho chị Lê Thị H là điều dưỡng trưởng khoa Ung bướu tầng 11, chị H đã thông báo lại sự việc cho Phòng bảo vệ của Bệnh viện M và trình báo cơ quan công an.

Đến trưa ngày 18/7/2018, biết được việc trộm cắp chiếc máy in bị phát hiện,

A đã xuống phòng bảo vệ Bệnh viện M khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 10/2/2018, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đ đã trao trả chiếc

máy in nhãn hiệu canon Laser shot LBP 2900 cho Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –Bệnh viện M.

Tại Kết luận định giá tài sản số 309/ĐGTS ngày 30 tháng 08 năm 2017, Hội

đồng định giá tài sản quận Đ, kết luận: Trị giá máy in nhãn hiệu canon Laser shot LBP 2900 là 2.800.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Trần Thị A đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã

nêu trên.

Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 10/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận

Đ đã truy tố Trần Thị A tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Taị phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ vẫn giữ nguyên quan

điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm p, h khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999 (nay là điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015) xử phạt:

- Trần Thị A từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo hạn thử

thách từ 12 tháng đến 20 tháng.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.

- Người bị hại là Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –Bệnh viện M đã

nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị A đã thành khẩn khai nhận hành

vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận định giá tài sản. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18h30 ngày 17/7/2017, tại phòng hành chính tầng 11 tòa nhà 21 của

Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –Bệnh viện M, Trần Thị A có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc chiếc máy in nhãn hiệu canon Laser shot LBP 2900 của Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện M có trị giá 2.800.000 đồng.

. Hành vi của các bị cáo Trần Thị A đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo

Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đ truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu

tài sản của người khác gây mất trật tự ổn định xã hội; Bị cáo biết rõ hậu quả nguy hiểm xảy ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân thể hiện ý thức của các bị cáo là xem nhẹ pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Vì vậy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo đã thành khẩn

khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải; Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại; nên áp dụng điểm s,i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nên cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng

tiền. Song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, vì vậy, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

. Bồi thường: Người bị hại là Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –

Bệnh viện M đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.

. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s, i khoản 1

Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Thị A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử

thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tòa tuyên án.

Giao bị cáo Trần Thị A về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Hà Nội để quản

lý và giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án.

Căn cứ: - Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt

bản án hợp lệ.

Cỡ chữ