vanban.org

Bản án 87/2017/DS-ST — Dân sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/07/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hinh pha ̣t: Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1, Khoản ̀ 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Bị cáo Huỳnh Văn Tân và đồng phạm bị truy tố và xét xử về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 199…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2017/DS-ST.
Ngày: 21-7-2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh và bà Huỳnh Thị Lượng.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tro ̣ng Nam , Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2017/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2017, đối với các bị cáo:

Huỳnh Văn T, sinh năm 1984; Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Chỗ ở hiện nay: Khu phố TL, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá lớp 5/12; con ông Huỳnh Văn U, sinh năm 1955 và bà Trương Thị B, sinh năm 1949; Vợ: Lê Thị Kim Ng, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 23/3/2017, có hành vi trộm cắp tài sản và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên bắt khẩn cấp và tạm giữ, ngày 01/4/2017 bị khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Lê Văn L; sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố TM, phường TY, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang H, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu 11, phường PL, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Qua cá c tà i liê ̣u có trong hồ sơ vụ á n và quá trinh xé t hỏi , tranh luận tại

̀ phiên toà , nội dung vụ á n được tó m tắ t như sau:

Huỳnh Văn T và đối tượng Tu (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn bè. Do

không có tiền nên T rủ Tu tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền chia nhau.

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/3/2017, Tu điều khiển xe mô tô hiệu Wave

(không rõ biển số) chở T từ huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đến khu vực phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tìm tài sản không người trông coi để chiếm đoạt. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, Tu chở T đi đến khu vực nhà trọ Ng S thuộc khu phố MH, phường TH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave RS biển số 61L9 – 2126 của ông Lê Văn L đang dựng bên cạnh phòng trọ, không người trông coi. Tu dừng xe ngoài đường còn T đi vào khu nhà trọ dẫn bộ xe mô tô 61L9 – 2126 ra ngoài đường. Do không có chìa khóa xe để khởi động nổ máy nên T ngồi trên xe 61L9 – 2126 điều khiển để Tu điều khiển xe của Tu và dùng chân đẩy xe 61L9 – 2126 chạy đi về hướng cầu Thạnh Hội thuộc xã Thạnh Hội, thị xã T Uyên. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, ông L phát hiện xe mô tô biển số 61L9 – 2126 bị mất nên đến Công an phường th, thị xã Tu trình báo sự việc. Công an phường thông báo cho lực lượng phòng chống tội phạm của phường Thái Hòa và các phường, xã trên địa bàn thị xã T Uyên để tiến hành các biện pháp chốt chặn, truy tìm đối tượng trộm cắp xe 61L9 – 2126. Khi nhận được thông báo của Công an phường Thái Hòa, ông Hồ Văn Gian là thành viên câu lạc bộ phòng chống tội phạm phường Thái Hòa phát hiện T đang ngồi trên xe 61L9 – 2126 để Tu điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đẩy chạy về hướng cầu Thạnh Hội, ông Gian điện thoại cho ông Nguyễn Văn Tính cũng là thành viên câu lạc bộ phòng chống tội phạm phường Thái Hòa đến hỗ trợ truy đuổi T và Tu. Phát hiện có người truy đuổi, Tu đẩy xe mô tô 61L9 – 2126 do T cầm lái chạy đến khu vực gần Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hội, thị xã T Uyên và bỏ lại xe mô tô 61L9 – 2126 trước nhà của ông Nguyễn Văn Hiền ấp Nhựt Thạnh, xã Thạnh Hội, thị xã T Uyên rồi T lên xe mô tô của Tu bỏ chạy. Ông Tính đuổi theo truy bắt T và Tu, ông Gian ở lại trông giữ xe mô tô biển số 61L9 – 2126. Khi đến khu vực phường Thái Hòa, ông Tính phối hợp cùng người dân xung quanh bắt được T giao cho Công an phường Thái Hòa còn Tu điều khiển xe chạy thoát. Công an phường TH tiến hành thu giữ xe mô tô hiệu Honda Wave RS màu đỏ - đen - bạc, biển số 61L9 – 2126 và lập hồ sơ ban đầu chuyển giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T Uyên thụ lý theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Theo Công văn số 63/HĐ-ĐGTS ngày 30/3/2017 của Hội đồng định giá

tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên xác định: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave RS màu đỏ - đen - bạc, biển số 61L9 – 2126 đã qua sử dụng trị giá 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.

Cáo trạng số 85/QĐ-KSĐT ngày 03/7/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T Uyên đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 09 đến 12 tháng tù

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Xe mô tô hiệu Honda Wave RS màu đỏ - đen - bạc, biển số 61L9 – 2126 do ông Trần Quang Hưng đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2008, ông Lê Văn L mua xe này nhưng do không có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Dương nên nhờ ông Hưng đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 15/5/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho ông Lê Văn L.

Đối với Tu không rõ lai lịch địa chỉ, có hành vi dùng xe mô tô chở Huỳnh Văn T thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 61L9 – 2126 của ông Lê Văn L, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T Uyên tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn L đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác

Tại phiên toà bi ̣ cáo đồng ý với nô ̣i dung bản cáo tra ̣ng của Viê ̣nKiểm sát và đồng ý quan điểm luâ ̣n tô ̣i của đa ̣i diê ̣n Viê ̣Kiểmn sát nên không bào chữa, tranh luâ ̣n.

Trong lờ i nói sau cùng bi ̣ cáoHuỳnh Văn T trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật nên rất hối hận, thành khẩn khai báo. Đề nghị Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣t để bi ̣ cáo sớ m được trở về lao động,

̀

hòa nhập với cộng đồng và trở thành công dân có ích cho xã hội.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên toa, Hô ̣̀

i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

[1] Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thi ̣ xa T̃ Uyên, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thi ̣ xa T Uyên, Kiểm sã

́t viên trong quá trình điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và ta ̣i phiên toà bị cáo, người

̀ bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

[2] Về tinh tiết đi ̣nh tô ̣i, đi ̣nh khung hinh pha ̣t: Ngày 23/3/2017, tại khu phố

̀

̀

Mỹ Hiệp, phường Thái Hòa, thị xã T Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Văn T lợi dụng sự sơ hở của ông Lê Văn L trong việc quản lý tài sản đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, màu đỏ đen bạc, biển số 61L9 – 2126, trị giá 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên vì mục đích tham lam, tư lợi, thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 85/QĐ-KSĐT ngày 03/7/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T Uyên truy tố bị cáo theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tinh tiết tăng nă ̣ng trách nhiệm hình sự: Không có

̀

[4] Về tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà,

̀

̀

bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại Điểm g, h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần cách ly khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng là phù hợp vớ i tinh chất, mứ c đô ̣ của hành vi pha ̣m tô ̣i của bị cáo, đủ tác dụng giáo dục

́ bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về viê ̣c xem xét viê ̣c áp du ̣ng , thay đổi hoă ̣c huỷ b ỏ biện pháp ngăn

chă ̣n: Cần tiếp tu ̣c ta ̣m giam bi ̣ cáo Huỳnh Văn T để đảm bảo việc thi hành án.

[7]. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát Điều tra thị xã Tân Uyên tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng tên Tu có hành vi dùng xe mô tô chở bị cáo Huỳnh Văn T thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 61L9 – 2126.

[8] Về chi phí tố tu ̣ng: Bị cáo phải nộp án phi hinh sự sơ thẩm theo quy định tại

́ ̀ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sựvà Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hinh pha ̣t: Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1, Khoản

̀ 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/4/2017.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ