- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quốc V - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-PT Ngày 22 - 11 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Tiến Hiệp
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Nguyễn Viết Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại: Phòng trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước và phòng trực tuyến Toà án nhân dân huyện B, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 95/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Ngô Duy V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Ngô Duy V, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993 tại: Tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; quốc tịch: V Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 08/12; bị cáo có cha tên Ngô Anh D và mẹ Thân Thị Hồng N; có 06 chị em ruột, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 59/2014/HSPT ngày 11/6/2014 bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự; Bản án số 58/2014/HSST ngày 08/5/2014 bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2022 đến ngày 20/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Duy V: Ông Nguyễn Văn Uý, sinh năm 1959 - Trung tâm Tư vấn pháp luật Nghĩa Tín thuộc Hội Luật gia tỉnh Đắk Nông (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, phường Nghĩa Trung, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Đặng Văn N nhưng người này không có kháng cáo và không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập để tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 10/01/2022, Đặng Văn N gọi điện thoại di động đến điện thoại di động 0973416926 cho một người tên là Hưng (không rõ nhân thân, lý lịch) mua 04 viên “thuốc lắc” và 01 gói ma tuý “khay” với giá 2.500.000đ. Khoảng 30 phút sau, có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) điều khiển xe ô tô “taxi” đến trước cửa quán “Thiên Thanh” thuộc xã Đ gọi điện thoại cho Ng để giao ma tuý, N đi ra nhận ma tuý, trả 2.500.000 đồng cho người đàn ông. Sau khi nhận ma tuý, N quay lại phòng “karaoke” gọi điện thoại di động bằng ứng dụng “Messenger” cho Ngô Duy V (điện thoại V mượn của Tiên) nói là N cùng Phạm Văn T, Hoàng Văn T, Nguyễn Thanh N, Doanh Thiêm T đến nhà của V thuê của anh Nguyễn Văn B tại Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để sử dụng ma tuý, thì V đồng ý. Tức thì, N dẫn T, T, N, T đến nơi ở của V. Tại đây N cất giấu số ma tuý vào tủ trong phòng ngủ của V. Lúc này, V rủ thêm Đặng Thị Cẩm T, sinh ngày 27/7/2005; Sơn Ngọc Hoài  và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 07/8/2007 đến nhà chơi. Khi mọi người đến đông đủ, N đi xuống phòng bếp lấy 01 cái đĩa (dĩa) mang lên phòng ngủ của V, lấy ma tuý ra để lên đĩa và bẻ 04 viên “thuốc lắc” ra thành từng miếng nhỏ đưa cho V, T, N, T, T, Â, M, T để cùng nhau sử dụng. Sau đó, N nói V đổ gói ma tuý “khay” ra đĩa để sử dụng thì V lấy gói ma tuý đổ ra đĩa một ít, số còn lại V để trên nệm, đồng thời V lấy 01 thẻ ATM nghiền, miết nhỏ ma tuý và phân ra thành từng hàng, còn M lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng cuộn lại thành ống hút để cho mọi người sử dụng. N, V, T, N, T, T, Â, M, T sử dụng từ 01 đến 02 lần và mở nhạc để lắc lư theo điệu nhạc. Lúc này, vào khoảng 00 giờ ngày 11/01/2022, Cơ quan Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, nơi ở của V phát hiện nên lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ 01 đèn led, 01 loa phát nhạc, 01 điện thoại di động của N, 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ ATM, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, niêm phong tang vật (ký hiệu M, M1 có chữ ký của N, V) (BL: 01 – 11, 80 – 102, 124 – 141, 245 – 247).
Tại Kết luận giám định số 22/2022/GĐ-MT ngày 19/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Phước (BL: 238), kết luận:
Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng là: 0,8098 gam.
Chất bột màu trắng (ký hiệu M1) bám dính dạng vết trên bề mặt 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng cuộn tròn dạng ống hút được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N và bị cáo Ngô Duy V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 38, 58 BLHS, xử phạt bị cáo Đặng Văn N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2022 đến ngày 20/01/2022.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 38, 58 BLHS, xử phạt bị cáo Ngô Duy V 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2022 đến ngày 20/01/2022
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 23/8/2022, bị cáo Ngô Duy V có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Toà án cấp sơ thẩm đã xác định và xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
Quan điểm bào chữa cho bị cáo Ngô Duy V cho rằng hành vi của bị cáo chỉ thuộc khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, vì các lý do: Bị cáo V không có hành vi rủ Đặng Thị Cẩm T, sinh ngày 27/7/2005 và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 07/8/2007 sử dụng ma tuý mà những người này do bị cáo N rủ. Bị cáo V hoàn toàn không biết T và M dưới 18 tuổi. Hơn nữa thủ tục thu thập tài liệu để xác định tuổi của T, M của Cơ quan Điều tra không đúng trình tự thủ tục. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo V ở khoản 1 Điều 225 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Duy V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Toà án cấp sơ thẩm đã xác định. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 10/01/2022, Đặng Văn N mua 04 viên thuốc lắc và 01 gói ma tuý khay với giá 2.500.000 đồng của 01 người đàn ông tên Hưng tại khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước điện thoại cho Ngô Duy V để lấy nơi ở của V làm địa điểm sử dụng ma tuý thì được V đồng ý. N mang ma tuý đến nơi ở của V tổ chức cho T, T, Â, T, T sinh ngày 27/7/2005, M sinh ngày 07/8/2007 sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt. Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận bị cáo có thành tích tốt trong việc tham gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thời điểm tháng 8/2021 nhưng xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đã phù hợp nên không có sơ sở giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm bào chữa cho bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo phạm tội thuộc khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự vì: Bị cáo V không có hành vi rủ Đặng Thị Cẩm T, sinh ngày 27/7/2005 và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 07/8/2007 sử dụng ma tuý mà những người này do bị cáo N rủ. Bị cáo V hoàn toàn không biết T và M dưới 18 tuổi. Hơn nữa thủ tục thu thập tài liệu để xác định tuổi của T, M của Cơ quan Điều tra không đúng trình tự thủ tục. Hội đồng xét xử xét thấy: Tình tiết tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi không buộc người phạm tội phải biết tuổi người sử dụng ma tuý. Tại phiên toà, chính bị cáo V đã thừa nhận mình là người gọi M và T đến nhà sử sụng trái ma tuý. Về lý lịch của Đặng Thị Cẩm T, Nguyễn Thị Thảo M thì ngoài giấy khai sinh còn có xác nhận của Uỷ ban nhân dân và lời khai của T và M nên đủ căn cứ để xác định tuổi của T và M. Vì vậy, quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Ngô Duy V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Duy V 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2022 đến ngày 20/01/2022.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ngô Duy V phải chịu 200.000 đồng.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - PV (06) Công an tỉnh Bình Phước; - TAND, VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Công an huyện B; - Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao; - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Tiến Hiệp |