- Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Doãn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86 /2018/HSST Ngày 06/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh;
Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Như Vũ ; Bà Nguyễn Thị Liên
. - Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hoàn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 06/02/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86 /2017/HSST ngày 15/01/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2018/QĐXXST-HS đối với bị cáo:
Doãn Văn H, sinh năm 1991; HKTT: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Doãn Văn H, sinh năm 1959; Con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962; Vợ: Lương Thị H, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2017- có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1974
Cư trú tại: C, xã D, huyện K, tỉnh Hải Dương ( vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T, sinh năm 1988
Cư trú tại: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Ông: Doãn Văn H, sinh năm 1959
Cư trú tại: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, với nội dung vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo có hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12h ngày 14/10/2017, bị cáo và chị Nguyễn Thị P đang ở trong phòng 402 của nhà nghỉ Hương Lan ở khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, do bản thân không có tiền để tiêu xài cá nhân nên khi thấy chị P vào nhà tắm để tắm. Bị cáo lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A9 màu vàng, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3màu vàng của chị P và số tiền 1.500.000đ ở trong ví da để trên giường ngủ. Sau khi lấy xong, bị cáo ra khỏi nhà nghỉ và bắt taxi xuống khu vực huyện Q ăn tiêu hết số tiền trộm cắp của chị P. Khoảng mấy ngày sau, H về nhà anh Phạm Văn T, sinh năm 1988 ở thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A9 được 4.500.000đ và đã ăn tiêu hết, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3, H sử dụng đến ngày bị bắt và đã bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh thu giữ.
Ngày 17/10/2017, anh T được Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh thông báo chiếc điện thoại di động Samsung A9 màu vàng mà anh đang giữ là vật chứng của vụ án nên anh T đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra để phục vụ quá trình điều tra.
Ngày 26/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 488/KL- HĐ ngày 31/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh kết luận:
- 01 điện thoại samsung A9 màu vàng IMEI: 352212080525459 đã qua sử dụng có giá 8.000.000 đồng.
- 01 điện thoại sam sung J3 màu vàng 358868082694967 đã qua sử dụng có giá 3.500.000 đồng. Tổng giá trị: 11.500.000 đồng (BL 30 - 31).
Cáo trạng số 02/CTr - VKS ngày 15/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Doãn Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố bị cáo Doãn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Khoản 1, Điều 138, Điều 33,; Điểm p, h, Khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 xử phạt:
Doãn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về vật chứng: Tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên không giải quyết.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng thu được. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12h ngày 14/10/2017, tại phòng 402 nhà nghỉ Hương Lan ở khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Doãn Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại samsung A9 màu vàng 01 điện thoại sam sung J3 màu vàng và số tiền 1.500.000 đồng, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 13.000.000đ của chị Nguyễn Thị P với mục đích bán lấy tiền ăn tiêu.
Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, phạm vào Khoản 1, Điều 138 BLHS năm1999 mà Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ®· x©m ph¹m ®Õn quyÒn së h÷u tµi s¶n cña c«ng d©n, g©y mÊt trËt tù trÞ an trªn ®Þa bµn thành phố, g©y hoang mang cho quÇn chóng nh©n d©n. Do vËy, cÇn ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo. Mặt khác, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bởi vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p, h khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS 1999 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/11/2017, ông Doãn Văn H, (là bố đẻ của bị cáo) đã tự nguyện bồi thường số tiền 4.500.000 đồng cho anh T. Đến nay, ông H không yêu cầu bị cáo phải trả lại ông số tiền trên. Anh T đã nhận đủ số tiền 4.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Đối với 02 chiếc điện thoại cùng sim điện thoại và số tiền 1.500.000đ: Xét thấy, ngày 15/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh trả lại cho chị P 02 chiếc điện thoại, Chị P đã nhận lại 02 chiếc điện thoại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000đ và sim trong 02 điện thoại nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Doãn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điều 33; Điểm p, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 BLHS 1999; Khoản 1, Khoản 3 Điều 329; Điều 136 BLTTHS 2015: Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội.
Xử phạt: Doãn Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 06/02/2018.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Bắc Ninh; - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Ngọc Anh |