vanban.org

Bản án 86/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Mai Tiến Đ 12 ( mƣời hai ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 31/01/2018. 2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tiến Độ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 86/2018/HSST
Ngày 31 tháng 5 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà văn Cƣơng

2. Ông Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà:

Ông Bùi Quang Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2018/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 92/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Tiến Đ - Sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã V, huyện K, tỉnh Ninh Bình; tạm trú tại: Tổ Dân phố 11, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Mai Văn S ( đã chết ), con bà Vũ Thị M; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D và có 01 con 02 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 31/01/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi liên quan: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1989

Địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 18h00’ ngày 31/01/2018 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã Huổi Một làm nhiệm vụ tại khu vực bản Co Mạ B, xã Huổi Một, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Mai Tiến Đ đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại bên trong chiếc mũ bảo hiểm xe máy 01 gói ni lon màu xanh bên trong có chứa chất bột maug trắng ngà và 02 viên nén màu hồng, Đ khai nhận là Heroine và Hồng phiến. Ngoài ra còn tạm giữ của Đ 01 xe mô tô Biển kiểm soát 26F2- 3915, 02 điện thoại di động và 01 ví da.

Ngày 01/01/2018 tại Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La đã tiến̉

̀

hành mở niêm phong, cân tịnh, trích mẫu vật chứng để giám định. Kết quả: Cân tịnh gói chất bột màu trắng có khối lƣợng 0,59gam, đã trích 0,1gam làm mẫu giám định ký hiệu Đ1, vật chứng còn lại 0,49gam ký hiệu Đ; cân tịnh 02 viên nén hình tròn màu hồng có khối lƣợng 0,18gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu DD2.

Tại kết luận giám định số 306/KLMT ngày 07/02/2018 của Phòng ky ̃ thuâ ̣t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La kết luận : “ Mẫu giám định ký hiệu Đ1là chất̉

̀ ma túy, loại chất Heroine, khối lƣợng mẫu gửi giám định là 0,10gam; mẫu giám định ký hiệu Đ2 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine. Tổng khối lƣợng chất ma túy thu giữ là 0,59gam, loại chất Heroine và 0,18gam, loại chất Methamphetamine ”.

Quá trình điều tra Mai Tiến Đ khai nhận: Khoảng 15h ngày 31/01/2018 Đ điều khiển xe mô tô Biển kiển soát 26F2-3915 từ nhà trọ ở Tổ Dân phố 11, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La đi vào trong xã Huổi Một nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản Co Mạ B Đ dừng xe ven đƣờng thì nhìn thấy một ngƣời đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi đang đứng ở bên đƣờng , Đ hỏi ngƣời này xem có biết chỗ nào bán ma túy không thì ngƣời đàn ông này hỏi Đ mua Hồng phiến hay Heroine, Đ nói mua cả hai loại đồng thời lấy 250.000đ đƣa cho ngƣời đàn ông này, sau khi nhận tiền ngƣời đàn ông bảo Đ đợi rồi đi bộ vào phía trong bản, khoảng 30 phút sau ngƣời đàn ông quay lại đƣa cho Đ một gói ni lon bên trong có 02 viên Hồng phiến và Heroine, sau khi nhận số ma túy Đ cất dấu vào phía dƣới cằm của chiếc mũ bảo hiểm rối điều khiển xe đi về, khi vừa đi đƣợc một đoạn thì bị Tổ công tác Công an huyện phát hiện bắt quả tang. Mai Tiến Đ cũng khai nhận do bản thân là ngƣời nghiện ma túy nên đã mua ma túy về để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSSM ngày 11 tháng 5 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Mai Tiến Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 - 15 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan; trả lại cho bị cáo 02 điện thoại di động, 01 ví giả da, 01 mũ bảo hiểm; trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan chiếc xe máy.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, việc Tòa án đƣa bị cáo ra xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là không oan, sai; tuy nhiên bị cáo đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để sớm đƣợc trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, thƣ ký phiên tòa, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Mai Tiến Đ thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 18h10 ngày 31/01/2018; phù hợp với vật chứng bị thu giữ gồm 02 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine; phù hợp với Kết luận giám định số 306/KLMT ngày 07/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo cũng khẳng định bản thân nghiện ma túy nên bị cáo mua ma túy về chỉ với mục đích để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/01/2018 Mai Tiến Đ đã mua 02 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông ở vực bản Co Mạ B, xã Huổi Một, huyện Sông Mã mục đích mang về để sử dụng, khi trên đƣờng về nhà bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang. Số ma túy đã thu là loại chất Heroine có khối lƣợng là 0,59gam và loại chất Methamphetamine có khối lƣợng là 0,18gam.

Hành vi tàng trữ 0,59gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine với mục đích để bản thân sử dụng của Mai Tiến Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với việc làm của bản thân; ngoài ra bị cáo có bố mẹ đẻ là ngƣời có công với cách mạng, đƣợc tặng thƣởng nhiều Huân chƣơng chiến sỹ giải phóng, Bằng khen trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Huy chƣơng vì sự nghiệp giáo dục - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lƣợng chất ma túy bị cáo tàng trữ để có một mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên Cơ quan điều tra đã làm rõ vợ chồng bị cáo đang ở chung với mẹ, không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,49gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biểm kiểm soát 26F2-3915 là tài sản chung của gia đình nên cần trả lại cho vợ bị cáo quản lý, sử dụng; đối với 02 điện thoại di động, 01 chiếc ví, 01 chiếc mã bảo hiểm do không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của ngƣời này nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :

Xử phạt bị cáo Mai Tiến Đ 12 ( mƣời hai ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 31/01/2018.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,49 gam Heroine.

+ 01 ( một ) mảnh nilon màu xanh.

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 ( một ) điện thoại di động màu đen trắng, hiệu NOKIA 110i, số IMEL 353504/210274/0.

+ 01 ( một ) điện thoại di động màu vàng đồng, hiệu L800, số IMEL 865552025824248.

+ 01 ( một ) ví giả da màu đen.

+ 01 ( một ) mũ bảo hiểm hiệu INDEX màu trắng xám.

- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Nguyễn Thị D 01 ( một ) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu sơn đen trắng, biểm kiểm soát 26F2-3915, không xác đinh đƣợc số khung, số máy 8195460.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 31/5/2018 ), ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ