- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 850/2019/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2019 V/v:“Tranh chấp Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Tiên
2. Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thục Đoan - Cán bộ
Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2019/HNST ngày 17 tháng 01 năm
2019, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
110/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn
phiên tòa số: 100/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Xuân H - sinh năm: 1987; Địa chỉ: đường A,
Phường B, quận C, Tp.HCM.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H – sinh năm: 1985; Địa chỉ: đường M,
Phường 16, quận C, Tp.HCM.
(Bà H có đơn xin vắng mặt; Ông H vắng mặt không có lý do)
NHẬN THẤY:
Trong đơn khởi kiện ngày 07/01/2019 và các lời trình bày trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Xuân H trình bày: bà và ông Nguyễn
Văn H chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng
chung sống rất hạnh phúc, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, sau
một thời gian dài chung sống có những bất hòa không thể giải quyết được. Hai vợ chồng có sự khác biệt trong lối sống, trong sinh hoạt hằng ngày, thường xuyên có mâu thuẫn dẫn đến không còn tôn trọng nhau. Hai bên đã nhiều lần ngồi lại trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, nhưng rồi mọi việc cũng không có kết quả, không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, vợ chồng không quan tâm, giúp đỡ nhau, đối xử lạnh nhạt với nhau. Hiện nay hai bên đã không còn tình cảm. Vợ chồng sống ly thân, không còn trao đổi hay bất cứ liên lạc nào. Đời sống chung của ông bà không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Phúc K, sinh ngày:
08/9/2013 và Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày: 31/7/2015 đề nghị được giao cho bà H trực tiếp nuôi con đến khi trưởng thành. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Không có.
Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông H đều vắng mặt không có
lý do.
Tại phiên tòa, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu Tòa án
giải quyết cho bà ly hôn với ông H; Bà H xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng; tài sản chung không có và nợ chung không có.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn H để tham gia xét
xử nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về
việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
* Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết
vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp; Tống đạt cho các đương sự đúng quy định quy định tại Điều 175 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Tiến hành phiên hòa giải đúng quy định tại Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Quyết định đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn theo quy định tại Khoản 2, Điều 220, Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý
vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy
định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn
chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
2015.
* Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Xuân H được ly hôn với ông
Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Phúc K, sinh ngày:
08/9/2013 và Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày: 31/7/2015 được giao cho bà H
trực tiếp nuôi con đến khi trưởng thành. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm
sát phát biểu quan điểm về vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông H là quan hệ tranh
chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số:121, Quyển số:
01/2011 ngày 03/12/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố
Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Phạm Thị Xuân H và ông Nguyễn Văn
H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ
chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
1/ Về yêu cầu xin ly hôn của bà H xét thấy trong thời gian chung sống vợ
chồng không hạnh phúc do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống.
Bà H đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng
nhưng ông H không đến Tòa, điều đó thể hiện ông H không cần biết đến kết quả
của việc bà H xin ly hôn với ông.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà H là phù hợp với quy
định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vì thực tế cả hai không còn tình
cảm, mục đích hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc
sống vợ chồng nữa; Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm
Thị Xuân H đối với ông Nguyễn Văn H.
2/ Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số:158, Quyển số: 01/2013
ngày 08/10/2013 và Giấy khai sinh số:140, Quyển số: 01/2015 của Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, xác định bà H và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Phúc K, sinh ngày: 08/9/2013 và Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày: 31/7/2015.
Xét về tuổi, trẻ K sinh ngày: 08/9/2013 hiện cũng chỉ mới 06 tuổi và trẻ P
sinh ngày: 31/7/2015, hiện cũng chỉ mới 04 tuổi (vẫn còn nhỏ) cần sự chăm sóc của người mẹ hơn, vì người phụ nữ chăm sóc con nhỏ chu đáo, tốt hơn đàn ông.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao hai trẻ
K và P cho bà H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là có cơ sở và phù hợp với các quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình.
Do bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông H cho đến khi bà H có yêu cầu.
Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không
ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc trực
tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H xác định không có. Nên không xem xét giải quyết.
Nợ chung: Bà H xác định không có. Nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 28, Điều 35, Khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, 82, 83,
84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Áp dụng Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án có hiệu lực ngày 01/7/2009.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Xuân H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Xuân H được ly hôn với ông
Nguyễn Văn H (Giấy chứng nhận kết hôn số: 121, Quyển số: 01/2011 ngày 03/12/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị).
Về con chung: có 2 con chung tên Nguyễn Phạm Phúc K, sinh ngày:
08/9/2013 và Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày:31/7/2015 giao cho bà Phạm Thị Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông H cho đến khi bà H có yêu cầu.
Về tài sản chung: Hai bên xác định không có.
Nợ chung: Hai bên xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Xuân H phải chịu 300.000 (Ba
trăm ngàn đồng), cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn
đồng) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2018/0001973 ngày
17/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà H đã nộp xong án
phí.
Trường hợp bản án, quyết định được Thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải Thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có quyền yêu cầu Chi cục Thi
hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo các Điều 7, 30, 31 và 32
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án theo đúng quy định
của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Gò Vấp; - Chi Cục THADS quận Gò Vấp; - UBND Phường B, quận C; - Các đương sự; - Lưu VP; Hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Hoàng |