- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tuấn Tú - Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 98/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chí…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2025/HS-ST Ngày 15-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Kim Long và bà Bùi Diệu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Thu Thảo-Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 291/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2025/QĐ XXST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Tuấn T, sinh năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: đường N, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế không có cư trú tại địa phương); nơi ở: đường T1, Phường M1, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: kinh doanh tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đăng S và bà Nguyễn Thị C; có vợ và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam từ ngày 07-6-2024 cho đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/06/2024, Tổ công tác-Đội Cảnh sát Giao thông Trật tự-Công an quận Bình Tân tuần tra đến trước đường S1, KDC VL, phường B, quận B1 thì nhìn thấy Phạm Tuấn T đang dừng xe ôtô biển số 98A-585.13 (xe do thuê của anh Hà Mạnh L) trên đường có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu cho T dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện bên trong các thùng carton để trên xe gồm có: 4.990 bao thuốc lá điếu hiệu Hero (499 cây), 300 bao thuốc lá điếu hiệu Scott (30 cây) và 270 bao thuốc lá hiệu NO.555 (27 cây) đều là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu; ngoài ra còn phát hiện thêm 100 bao thuốc lá hiệu Sài Gòn (10 cây) và 290 bao thuốc lá điếu hiệu Craven (29 cây) được sản xuất tại Công ty thuốc lá S2, nhưng đều không có hóa đơn chứng từ nên Tổ công tác đưa T cùng vật chứng đến Công an phường Bình Hưng Hòa B để tiếp tục làm rõ rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận: trong lúc T sử dụng tài khoản Facebook tên “Phạm Tuấn T” rao bán dầu gội, bột giặt, sữa tắm...thuốc lá điếu sản xuất tại Việt Nam (thuốc lá điếu Việt Nam) và thuốc lá điếu nhập lậu thì T có sử dụng tài khoản Facebook này liên lạc với người thanh niên thông qua tài khoản Facebook tên “Sen Nguyễn” (không rõ lai lịch và số điện thoại) đặt mua tổng cộng có 5.090 bao (509 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và Scott nhằm để bán lại kiếm lời, trong đó gồm: 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero với giá 159.000 đồng/cây (bán lại với giá 162.000 đồng/cây) và 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott với giá 134.000 đồng/cây (bán lại với giá 138.000 đồng/cây) rồi hẹn địa điểm giao nhận và phải thanh toán bằng tiền mặt. Theo hẹn với người mà T đã đặt mua thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, T điều khiển xe ôtô đến trước địa chỉ số đường H, Phường H1, Quận H2 nhận số thuốc lá điếu nhập lậu đã đặt mua trước đó để mang đi bán lại kiếm lời gồm: 4.990 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero (499 cây) và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott (10 cây) rồi đến tiệm tạp hóa gần đó (không nhớ địa chỉ cụ thể) mua thêm 190 bao (19 cây) thuốc lá hiệu Craven (thuốc lá điếu Việt Nam) với giá 138.000 đồng/cây (bán lại với giá 141.000 đồng/cây) nhằm mục đích ngụy trang để tránh bị Công an kiểm tra phát hiện. Riêng đối với số thuốc lá điếu còn lại gồm: 270 bao (27 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu NO.555 và 200 bao (20 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott (tổng cộng 470 bao, tương ứng 47 cây thuốc lá điếu nhập lậu); 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu hiệu Sài Gòn (Sài Gòn Bạc) và 100 bao (10 cây) thuốc lá hiệu Craven (tổng cộng 200 bao, tương ứng 20 cây thuốc lá điếu Việt Nam) là của chị Trịnh Đình K, còn việc lý do tại sao T có chở theo số thuốc lá này trên xe bởi vì: T với chị K là chỗ bạn bè quen biết ngoài xã hội và sáng ngày 01/6/2024 sẽ đi mua bán thuốc lá về bán bằng xe ôtô lại tiện đường nên T mới nhận vận chuyển dùm số thuốc lá trên của chị K (không có lấy tiền công gì của chị K) đến giao cho anh Võ L (do anh L đặt mua của chị K trước đó). Sau khi chị K đưa thuốc lá trên lên xe ôtô của T xong, T điều khiển xe ôtô chạy đi mua thuốc lá của T rồi đưa lên xe chung với thuốc lá của chị K nhờ giao dùm cho anh L. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/6/2024, T dùng điện thoại của T số 0933339522 gọi vào số máy điện thoại 0588385703 (do chị K cung cấp) cho anh L hẹn giao thuốc lá tại trước địa chỉ số 55, Đường Số 8, Khu dân cư Vĩnh Lộc, thuộc phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân rồi trong lúc T dừng xe ôtô lại để chờ anh L đến thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ toàn bộ số thuốc lá trên. Đồng thời, qua kiểm tra dữ liệu nhật ký điện thoại di động trong ngày 01/06/2024 của T, chỉ có dữ liệu đăng nhập, sử dụng tài khoản Facebook tên “Phạm Tuấn T” có liên hệ tài khoản Facebook tên “Sen Nguyễn”, ngoài ra không có đăng nhập tài khoản Facebook nào khác, không liên hệ tài khoản Facebook tên “Nguyễn Thanh” của chị K để trao đổi nội dung liên
2
quan mua bán thuốc lá điếu. Ngoài ra, T không biết và cũng không liên quan gì đến nội dung thỏa thuận trên Facebook giữa chị K với anh L về việc mua bán các loại thuốc lá điếu trên; đồng thời, do quen biết với chị K ngoài xã hội nên T mới đồng ý nhận vận chuyển giao thuốc lá điếu của chị K giao dùm cho anh L vào ngày 01/06/2024. Còn việc T mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và thuốc lá điếu Việt Nam là hoàn toàn độc lập với việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và thuốc lá điếu Việt Nam của chị K; ngược lại, chị K cũng không có giúp sức gì cho T trong việc rao bán thuốc lá điếu trên mạng xã hội.
Chị Trịnh Đình K khai: do chị K với T là chỗ bạn bè quen biết ngoài xã hội, đến khi biết T đi mua thuốc lá về bán bằng xe ôtô lại tiện đường nên mới nhờ T chuyển giao thuốc lá trên cho anh L dùm chị thì T đồng ý và không có lấy tiền công gì của chị. Khi đó, chị K có thoại nhắn Linh số điện thoại 0588385703 của anh L cho T và số điện thoại 0933339522 của T cho anh L biết để liên lạc giao thuốc lá. Nguồn gốc thuốc lá điếu nhập lậu do chị K đặt mua của người đàn ông (không rõ lai lịch và không nhớ số điện thoại của người này) tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Còn việc rao bán thuốc lá này là thông qua tài khoản Facebook có tên “Nguyễn Thanh”; còn anh L sử dụng tài khoản Facebook (không nhớ tên tài khoản do anh L đã xóa) tham gia vào nhóm kín trên mạng xã hội Facebook tên “THUỐC LÁ LONG AN” để liên lạc, trao đổi, đặt mua thuốc lá của chị K qua tài khoản Facebook có tên “Nguyễn Thanh”. Chị K chỉ nhận bán thuốc lá cho anh L rồi sau đó có nhờ T vận chuyển giao cho anh L dùm số thuốc lá nêu trên và không có hóa đơn chứng từ; đồng thời, chị K không biết và cũng không liên quan gì đến số thuốc lá còn lại của T bị thu giữ. Ngoài ra, khi chị K thỏa thuận mua bán với anh L thì T hoàn toàn không biết và cũng không liên quan.
Vật chứng đã thu giữ gồm và giám định Hiệp hội thuốc lá Việt Nam: 4.990 bao thuốc lá điếu hiệu Hero (499 cây), 100 bao thuốc lá điếu hiệu Scott (10 cây), 190 bao thuốc lá điếu hiệu Craven (19 cây) được sản xuất tại Công ty thuốc lá S2 (không có hóa đơn chứng từ) và 01 cái điện thoại di động hiệu Apple Iphone 15 Pro Max của T liên lạc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu; còn 01 chiếc xe ôtô biển số 98A-585.13 do anh Phạm Văn P đứng tên sở hữu và ủy quyền lại cho anh Hà Mạnh L rồi anh L cho T thuê 15.000.000 đồng/tháng, Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho anh L (Riêng 270 bao (27 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu NO.555 và 200 bao (20 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott (tổng cộng 470 bao, tương ứng 47 cây); 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu hiệu Sài Gòn (Sài Gòn Bạc) và 100 bao (10 cây) thuốc lá hiệu Craven (tổng cộng 200 bao, tương ứng 20 cây thuốc lá điếu Việt Nam) của chị K bán cho anh L, 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13 Pro Max của chị K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G của anh Võ L đã được chuyển sang xử lý hành chính). Còn theo Công văn số 106/CV-2024 HHTLVN, ngày 03/6/2024 của Hiệp Hội thuốc lá Việt Nam thì: tất cả các bao thuốc lá điếu hiệu Hero, Scott và NO.555 đã nêu trên đều “là thuốc lá điếu nhập lậu”.
3
Như vậy, lời khai của T phù hợp với lời khai của chị K, anh L và cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở xác định: T đã có hành vi mua 5.090 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhằm mục đích để bán lại kiếm lời nên hành vi này của T đủ yếu tố cấu thành “Tội buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015; riêng đối với hành vi của T về vận chuyển 470 bao thuốc lá điếu nhập lậu dùm chị Trịnh Đình K giao cho anh Võ L là dưới mức 1.500 bao và chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án gì nên hành vi này của T chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vận chuyển hàng cấm”, theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn hành vi của chị K và anh L về mua bán 470 bao thuốc lá điếu nhập lậu là dưới mức 1.500 bao và chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án gì nên hành vi này của chị K và anh L không đủ yếu tố cấu thành “Tội buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà phải chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính cùng với 01 phần vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra, T không biết, không liên quan hay giúp sức gì trong việc mua bán thuốc lá giữa chị K và anh L; ngược lại, 02 người này cũng không biết, không liên quan hay giúp sức gì cho T nên không ai là đồng phạm với T. Đối với người thanh niên bán thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo có tên tài khoản Facebook “Sen Nguyễn” thì do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét để xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Tuấn T đã khai nhận: trong lúc bị cáo rao bán dầu gội, bột giặt, sữa tắm...thuốc lá điếu Việt Nam và thuốc lá điếu nhập lậu trên tài khoản Facebook tên “Phạm Tuấn T” của bị cáo thì bị cáo có sử dụng tài khoản Facebook này liên lạc với người thanh niên thông qua tài khoản Facebook tên “Sen Nguyễn” (không rõ lai lịch) đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và Scott nhằm để bán lại kiếm lời, trong đó gồm 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott (tổng cộng 5.090 bao, tương đương 509 cây) rồi hẹn địa điểm gặp nhau để giao nhận số thuốc lá này và phải thanh toán bằng tiền mặt. Sau đó, do chị Trịnh Đình K là chỗ bạn bè quen biết ngoài xã hội hay tin bị cáo sẽ đi mua bán thuốc lá bằng phương tiện xe ôtô và tiện đường nên bị cáo mới nhận chở dùm chị K (không có lấy tiền công), gồm: 270 bao (27 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu NO.555 và 200 bao (20 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott (tổng cộng 470 bao, tương ứng 47 cây); 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu hiệu Sài Gòn (Sài Gòn Bạc) và 100 bao (10 cây) thuốc lá hiệu Craven (tổng cộng 200 bao, tương ứng 20 cây thuốc lá điếu Việt Nam) đến giao cho anh Võ L (do anh L đặt mua của chị K). Sau khi chị K đưa thuốc lá trên lên xe ôtô của bị cáo xong, bị cáo điều khiển xe ôtô chạy đến trước nhà số đường H, Phường H1, Quận H2theo hẹn với người bán để nhận số thuốc lá điếu nhập lậu mà bị cáo đã đặt mua trước đó. Lúc nhận mua được 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott thì bị cáo đến tiệm tạp hóa gần đó (không nhớ địa chỉ cụ thể) mua thêm 190 bao (19 cây) thuốc lá hiệu Craven (thuốc lá điếu Việt Nam) nhằm mục đích ngụy trang để tránh bị Công an kiểm tra phát hiện. Tất cả số thuốc lá của bị cáo đã mua đều được đưa lên xe để chung với thuốc lá của chị K nhờ chở đi giao dùm cho anh L rồi điều
4
khiển xe ôtô đến điểm hẹn chờ anh L ra nhận số thuốc của chị K thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Do bị cáo không biết, không liên quan hay giúp sức gì trong việc mua bán thuốc lá giữa chị K và anh L; ngược lại, 02 người này cũng không biết, không liên quan hay giúp sức gì cho bị cáo nên nay bị cáo thừa nhận chỉ có một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là mua bán 5.090 bao thuốc lá điếu nhập lậu đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì về kết quả “thẩm định thuốc điếu ngoại nhập lậu” và giải quyết vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 264/CT-VKS, ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh) để xét xử về “Tội buôn bán hàng cấm”, theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Phạm Tuấn T đã có hành vi mua tổng số 5.090 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó 4.990 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) nhằm mục đích để bán lại kiếm lời thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về “Tội buôn bán hàng cấm”. Còn về vật chứng, đề nghị: tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cái điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro Max; tịch thu tiêu hủy gồm: 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero, 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Scott và 190 bao (19 cây) thuốc lá điếu Việt Nam nhãn hiệu Craven.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên thì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
5
quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo Phạm Tuấn T thì, xét theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra; lời khai của các người có liên quan là chị Trịnh Đình K và anh Võ L; lời khai của người làm chứng; biên bản nhận dạng, đối chất; biên bản ghi nhận sự việc tại hiện trường, vật chứng thu giữ được; biên bản niêm phong, mở niêm phong…nên đã đủ cơ sở xác định: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/06/2024 tại trước nhà số 55, Đường Số 8, Khu dân cư Vĩnh Lộc, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân. Bị cáo đã có hành vi cất giữ 5.090 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó, 4.990 bao thuốc lá điếu hiệu Hero và 100 bao thuốc lá điếu hiệu Scott do đã mua trước đó của người thanh niên có tên tài khoản Facebook là “Sen Nguyễn” (không rõ lai lịch) nhằm mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.
Theo Công văn số: 106/CV-2024 HHTLVN, ngày 03/6/2024 về việc “thẩm định thuốc lá điếu ngoại nhập lậu” của Hiệp Hội thuốc lá Việt Nam, đã tiến hành thẩm định: 03 mẫu cây thuốc lá điếu (01 cây có 10 bao) có các nhãn hiệu: NO.555, Scott và Hero do quý cơ quan cung cấp ngày 03 tháng 6 năm 2024 và xác nhận các mẫu này đều không có dán tem và in cảnh báo sức khỏe bằng hình và bằng Tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá. Căn cứ Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ về “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, 03 mẫu cây thuốc lá điếu (01 cây có 10 bao) có các nhãn hiệu: NO.555, Scott và Hero do quý cơ quan cung cấp ngày 03 tháng 6 năm 2024 là thuốc lá điếu nhập lậu”.
Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Tuấn T phạm “Tội buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức án áp dụng đối với bị cáo cũng như việc giải quyết vật chứng vừa nêu trên là có cơ sở nên chấp nhận. Riêng đối với hành vi của bị cáo về vận chuyển 470 bao thuốc lá điếu nhập lậu dùm chị Trịnh Đình K giao cho anh Võ L là dưới mức 1.500 bao và chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án gì nên hành vi này của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vận chuyển hàng cấm”, theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời đối với hành vi của chị K và anh L về mua bán 470 bao thuốc lá điếu nhập lậu là dưới mức 1.500 bao và chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án gì nên hành vi này của chị K và anh L không đủ yếu tố cấu thành “Tội buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 mà phải chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính cùng với vật chứng là có căn cứ. Ngoài ra, bị cáo không biết, không liên quan hay giúp sức gì trong việc mua bán thuốc lá giữa chị K với anh L và
6
ngược lại, 02 người này cũng không biết, không liên quan hay giúp sức gì cho T nên không ai là đồng phạm với T là có cơ sở. Còn đối với người thanh niên bán thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo có tên tài khoản Facebook “Sen Nguyễn” thì, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét để xử lý sau là phù hợp.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, góp phần làm giảm sức cạnh tranh hàng hóa nội địa là thuốc lá mà còn gây ảnh hưởng đến sự điều tiết thị trường của Nhà nước. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm sao cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vậy, xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung bị cáo một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước là cần thiết.
Về vật chứng: đối với chiếc xe ôtô biển số 98A-585.13 của bị cáo sử dụng làm phương tiện mua bán thuốc lá nhập lậu là do anh Phạm Văn P đứng tên sở hữu và ủy quyền cho anh Hà Mạnh L cho bị cáo thuê 15.000.000 đồng/tháng, Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho anh L. Còn 270 bao (27 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu NO.555, 200 bao (20 cây) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott, 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu hiệu Sài Gòn, 100 bao (10 cây) thuốc lá hiệu Craven của chị K bán cho anh L, 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13 Pro Max của chị K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G của anh Võ L thì đã được Cơ quan điều tra chuyển sang xử lý hành chính cùng với chị K và anh L nên không xét. Riêng 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro Max; số máy, số Imei: 356876522593139 (thu giữ của Phạm Tuấn T, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy bên trong, vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”) của bị cáo T, do có sử dụng liên lạc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Riêng đối với 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”), 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott (vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”) và 190 bao (19 cây) thuốc lá Việt Nam nhãn hiệu Craven (CRAVEN DEMI, không có
7
hóa đơn chứng từ, vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”) của bị cáo mua để bán, do Nhà nước cấm sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Bị cáo Phạm Tuấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- Căn cứ vào điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn T 09 (chín) năm tù về “Tội buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày 07-6-2024.
- Phạt bổ sung bị cáo Phạm Tuấn T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
{
2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 15 Pro Max; số máy, số Imei: 356876522593139 (thu giữ của Phạm Tuấn T, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy bên trong, vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”).
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 4.990 bao (499 cây) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”), 100 bao (10 cây) thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott (vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”) và 190 bao (19 cây) thuốc lá Việt Nam nhãn hiệu Craven (CRAVEN DEMI, không có hóa đơn chứng từ, vụ Phạm Tuấn T “Buôn bán hàng cấm”).
(Vật chứng trên hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK25/379TV, ngày 15/8/2025)
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phạm Tuấn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
8
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo Phạm Tuấn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Phòng HSNV (PV 06)-CATP.HCM; - VKSND KV9-TP.HCM; - CQCSĐT-CATP.HCM; - Trại TG Chí Hòa (KV Bình Tân)-CATP.HCM (nếu có); - Thi hành án dân sự TP.HCM; - Bộ phận THAHS-TANDKV9-TP.HCM; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác (nếu có); - Lưu hs,Vp. 9 | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |