vanban.org

Bản án 85/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Xuân C phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Cao Xuân C 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Cao Xuân C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Xuân Cảnh phạm tội "Buôn bán hàng cấm" năm 2019 - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Xuân C phạm tội Buôn bán hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2019/HS-PT
Ngày: 28 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu; ông Bùi Đình Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2019/HSPT ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Cao Xuân C do có kháng cáo của bị cáo Cao Xuân C đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo: Cao Xuân C; sinh ngày 08/6/1974 tại xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Sách; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Bằng L và bà Đinh Thị T; Vợ: Phạm Thị C, sinh năm: 1979; Con: 02 đứa, lớn 15 tuổi, nhỏ 09 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; bị khởi tố bị can ngày 22/01/2019, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân Cảnh: ông Võ Quốc H, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Đức V; sinh ngày 24/6/1984; trú quán: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.

Vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 20/01/2019, trong lúc đang phối hợp với Ban công an xã H, huyện H tiến hành tuần tra trên tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn đi qua xóm L, xã H, Tổ công tác Công an huyện H phát hiện Nguyễn Đức V, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình điều khiển xe mô tô Wave RSX, màu xám bạc, biển kiểm soát 59X2 - 36393, chạy trên tuyến đường Hồ Chí Minh, hướng từ Quảng Bình đi Hương Khê có biểu hiện nghi vấn, lực lượng Công an đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính, thu giữ tại giá để chân ở giữa xe mô tô Nguyễn Đức V điều khiển 01 bao tải màu trắng, bên trong chứa 10 khối hình hộp, nghi là pháo. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa tang vật và đối tượng về trụ sở Công an huyện H để làm việc.

Theo kết luận giám định số 116/GĐP - PC09 ngày 21/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 10 khối hộp giấy thu giữ của Nguyễn Đức V gửi giám định có tổng trọng lượng 13,52kg là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháp nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Quá trình điều tra Nguyễn Đức V khai số pháo trên V mua của Cao Xuân C, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, với giá 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) để bán lại cho người đàn ông có số thuê bao 0989.759.687 nhằm mục đích kiếm lời.

Cơ quan Điều tra công an huyện H đã phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Q tiến hành triệu tập đối tượng Cao Xuân C để làm việc, Cao Xuân C tự nguyện giao nộp cho cơ quan Điều tra Công an huyện H 11 khối hộp giấy.

Theo kết luận giám định số 121/GĐP - PC09 ngày 22/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 11 khối hộp giấy Cao Xuân C tự nguyện giao nộp gửi giám định có tổng trọng lượng 15,6kg là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháp nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Quá trình điều tra Cảnh khai nhận: 10 hộp pháo thu giữ của V và 11 hộp pháo C giao nộp là do C mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thôn M, xã H vào chiều ngày 14/01/2019, với giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Sau khi mua được pháo C đưa về cất dấu ở nhà mình để bán kiếm lời. Đến khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 20/01/2019 Cảnh lấy 10 hộp pháo bán cho Nguyễn Đức V với giá 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Số pháo còn lại C cất dấu ở nhà.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Xuân C; điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức V. Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Cao Xuân C; Nguyễn Đức V phạm tội Buôn bán hàng cấm.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Cao Xuân C 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Bản án còn xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 12 tháng tù cho hưởng án treo, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 18/4/2019, bị cáo Cao Xuân C kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp số pháo đang cất giấu ở nhà, là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Cao Xuân C có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Theo đó bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố bị cáo Cao Xuân Cphạm tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn nên cần phải bị pháp luật nghiêm trị.

Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng:

Bị cáo Cao Xuân C là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên coi thường pháp luật. Quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố là ông Cao Bằng L có Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, có mẹ là bà Đinh Thị T có Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, mức hình phạt 15 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn vợ không có nghề nghiệp ổn định, hay đau ốm, con còn nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo là người dân tộc Sách, dân tộc thiểu số sống ở miền núi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, nhân thân tốt. Do đó cần xem xét chiếu cố cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương là phù hợp.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Xuân C.

[3 Về án phí: Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

V các trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Xuân C. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh về biện pháp chấp hành hình phạt.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử:

Tuyên bố bị cáo Cao Xuân C phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Cao Xuân C 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Cao Xuân C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Cao Xuân C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ