- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2017/HS-ST Ngày: 30/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Chi
2. Ông Lê Văn Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long - tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long - tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2017/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh K - sinh năm 1996
Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở hiện nay: Số 117 đường H, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Văn B - 1966 và bà Phạm Thị T - 1965; bị cáo chưa có vợ.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 27/9/2016 bị Công an phường H, thành phố V xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến nay chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- Ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/8/2017 có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm 1958; địa chỉ: Số 143/8D Khóm 1, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
2. Ông Nguyễn Công C – Sinh năm 1954; địa chỉ: Số 27/109 đường H, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quốc C – 1981; địa chỉ: Số 70/22 đường L, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 30/6/2017 Phạm Thanh K và Nguyễn Quốc C sau khi sử dụng ma túy xong thì C rủ K cùng nhau đi trộm cắp tài sản. C điều khiển xe mô tô 54L4-5719 từ đường N, phường H, thành phố V đi về hướng cầu T để tìm tài sản lấy trộm, khi chạy đến trước sân vận động tỉnh Vĩnh Long thì K kêu C chở đi vào đường cặp vách tường sân vận động. Khi đến trước cửa nhà số 27/109 đường H, Phường H, thành phố V thì K nhìn thấy có nhiều miếng sắt đang dựng dựa vào vách phía trước nhà ông Nguyễn Công C nên K nảy sinh ý định lấy trộm nên kêu C dừng xe lại rồi K xuống xe đến lấy một miếng sắt dài 1,4m, khối lượng 18 ký mang đến chỗ C đậu xe cách đó khoảng 5m. Sau đó C điều khiển xe chở K để miếng sắt ở giữa chạy xuống Phường B, thành phố V để tìm nơi tiêu thụ, khi đến đoạn đường phía trước Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thì bị lực lượng Cảnh sát trật tự - Cơ động thuộc Công an thành phố V đang tuần tra phát hiện kiểm tra, thu giữ vật chứng. K và C thừa nhận toàn bộ hành vi đã lấy trộm miếng sắt như trên.
Kết luận định giá số 80/HĐĐG&TTHS ngày 05/7/2017 của Hội đồng định giá thành phố V thì 18 ký sắt trị giá 75.600 đồng.
Khoảng 05 giờ ngày 11/8/2017 K đi bộ từ nhà số 117 đường H, Phường H, thành phố V tìm tài sản để lấy trộm, khi đến công trình xây dựng nhà số 69 đường H thì K nhìn thấy trong khu vực xây dựng phía trước nhà tạm có để một máy bơm điện, quan sát thấy không có người trông giữ nên K leo qua hàng rào vào lấy máy bơm rồi leo rào đi ra. K đi bộ ôm theo máy bơm đem về để trên đường dal cách nhà K khoảng hai căn rồi lấy bao xi măng che lại định đến trưa sẽ đem đi bán thì bị ông Đỗ Văn T và ông Đặng Văn T phát hiện báo cho Công an phường H mời K đến trụ sở làm việc thì K thừa nhận lấy trộm máy bơm điện như trên.
Kết luận định giá số 107/HĐĐG&TTHS ngày 17/8/2017 của Hội đồng định giá thành phố V thì máy bơm điện hiệu LEEDO, công suất 01 HP trị giá 447.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 30/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Phạm Thanh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; các Điều 33, 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thanh K từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Tổng hợp với mức hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 69/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Buộc bị cáo Phạm Thanh K phải chấp hành hình phạt chung là từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Công C và Nguyễn Văn L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Bị cáo Phạm Thanh K đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 01 giờ ngày 30/6/2017 bị cáo có hành vi lén lút lấy trộm 18 kg sắt trị giá 75.600 đồng của ông Nguyễn Công C tại nhà số 27/109 đường H, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; khoảng 05 giờ ngày 11/8/2017 bị cáo tiếp tục có hành vi lén lút lấy trộm một máy bơm điện trị giá 447.000 đồng của ông Nguyễn Văn L tại nhà số 69 đường H, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự qui định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Bị cáo trộm cắp tài sản giá trị dưới hai triệu đồng, nhưng ngày 27/9/2016 bị Công an phường H, thành phố V xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến nay chưa nộp phạt nên không được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản’’ tội danh và hình phạt được được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là chính xác.
Đối với Nguyễn Quốc C chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của C tham gia cùng với bị cáo lấy trộm miếng sắt trị giá 75.600 đồng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố V quyết định xử phạt hành chính C số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được tài sản thuộc quyền sử hữu của người khác phải được mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ, nếu ai xâm phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu lao động, để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc nên đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, thậm chí khi được cơ quan điều tra cho tại ngoại chờ xét xử về hành vi trộm cắp tài sản bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, gây mất trật tự xã hội và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, với hành vi phạm tội này, bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm với một hình phạt tương ứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính răn đe, giúp bị cáo học tập, cải tạo bản thân trở thành một người công dân có ích và cũng góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản cũng đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Công C và Nguyễn Văn L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; các Điều 33, 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh K 01 (một) năm tù.
Tổng hợp với mức hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 69/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Buộc bị cáo Phạm Thanh K phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2017.
II. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án và danh mục ban hành kèm theo;
Buộc bị cáo Phạm Thanh K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người bị hại Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Nguyễn Công C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo và trại giam; - Tòa án tỉnh VL; - Công an TPVL; - Viện Kiểm Sát TPVL; - Thi hành án TPVL; - Lưu hồ sơ. | (đã ký) Phạm Hải Châu |