- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 06/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Cường
Các hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Trung, ông Nguyễn Khánh Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường A Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý: 93/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn L, (theo bị cáo trình bày tại phiên toà bị cáo không có tên gọi khác), sinh năm: 2001 tại: Đồng Nai; Căn cước công dân 075201003077; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp 1, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Anh T, sinh năm 1976 và con bà Trần Thị Cẩm Th, sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà Phân trại tạm giam khu vực Thống Nhất từ ngày 29/12/2024 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
+/ Anh Vũ Quốc T, sinh năm: 2000
Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
+/ Anh Vũ Mạnh C, sinh năm: 1999
Địa chỉ: Ấp 2, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Anh T có mặt tại phiên toà, anh C vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 28/12/2024, Công an xã L, huyện Thống Nhất kiểm tra căn nhà không số thuộc ấp 1, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tấn L về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa thảo mộc khô; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) cối xay cần sa bằng kim loại hình trụ tròn bên trong chứa thảo mộc khô; 01 (một) bật lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen, thuê bao số: 0348.258.068, thu giữ của Nguyễn Tấn L; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax màu bạc, thuê bao số 0368.792.751 thu giữ của Vũ Quốc T; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung A03 màu đen, thuê bao số 0586.832.472 thu giữ của Vũ Mạnh C.
Quá trình điều tra đến nay đã chứng minh làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Tấn L bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2023, loại ma túy bị cáo sử dụng là ma túy cần sa. Ngày 22/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã sử dụng điện thoại Iphone màu bạc, thuê bao số 0348.258.068 của bị cáo lên mạng tìm kiếm trang Web có nội dung bán ma túy cần sa và mua về sử dụng (bị cáo không nhớ trang Web). Sau khi tìm được thông tin trang Web bán ma túy, bị cáo đã đặt mua 04 (bốn) gói ma túy cần sa (không xác định được khối lượng) với số tiền là 600.000 đồng (trong đó 500.000 đồng là tiền mua ma túy, 100.000 đồng là tiền phí vận chuyển), bị cáo đồng ý. Ngày 25/12/2024, bị cáo nhận được đơn hàng từ một người đàn ông (bị cáo không nhớ được đặc điểm và phương tiện người đến giao hàng), khi nhận được đơn hàng bị cáo đưa 600.000 đồng cho người đàn ông và nhận đơn hàng (phần võ ghi thông tin địa chỉ đơn hàng, bị cáo xé và vứt đi), bị cáo mang 04 gói ma túy cần sa vào cất trong phòng ngủ đồng thời chế ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy cần sa (gồm: 01 chai nhựa dạng nước ngọt, 01 ống nhựa được làm từ võ cây bút bi, 01 đầu nỏ dùng giấy bạc của gói thuốc quấn thành hình trụ), rồi lấy ra một ít ma túy (cần sa) cho vào cối xay (cối xay bị cáo đặt mua trên mạng) và dùng dụng cụ do bị cáo tự chế cho ma túy cần sa đã say nhuyễn vào và dùng bật lửa đốt cho cần sa cháy, sau đó hút khói vào cơ thể qua đường miệng.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, sau khi bị cáo cùng với C và T (là bạn của bị cáo) đi nhậu xong, bị cáo Nguyễn Tấn L rủ C và T đến nhà bị cáo, lúc này C do nhậu say nên nằm ngủ, bị cáo rủ T sử dụng ma túy cần sa, T đồng ý. Bị cáo lấy bộ dụng cụ và ma túy cần sa đã chuẩn bị sẵn, rồi dùng bật lửa đốt cháy cần sa lên sử dụng trước sau đó T lấy ma túy (cần sa) từ trong cối xay bỏ vào dụng cụ sử dụng và cầm dụng cụ lên, dùng bật lửa đốt nóng ma túy cần sa, khi cần sa đang cháy (bốc khói) và T chuẩn bị sử dụng (hút) thì Công an xã L, huyện Thống Nhất đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ 03 gói nylon chứa cần sa và ½ gói cần sa (kết luận giám định là ma túy loại cần sa, khối lượng 8,6802gam).
Căn cứ Kết luận giám định số: 2742/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, xác định:
- Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 6,5115gam, loại: cần sa.
- Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,9605gam, loại: cần sa.
- Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2082gam, loại: cần sa.
+/ Về vật chứng vụ án:
- Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì theo Kết luận giám định số 2742/QĐ-ĐCSMT của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 (một) hộp quẹt gas màu trắng đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, thuê bao số 0348.258.068 thu giữ của Nguyễn Tấn L. Đây là phương tiện bị cáo dùng để liên hệ trao đổi mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A03 màu đen, thuê bao số 0586.832.472 thu giữ của Vũ Mạnh C. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Vũ Mạnh C, qua kiểm tra xác định không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho C.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu bạc, thuê bao số 0368.792.751 thu giữ của Vũ Quốc T. Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên không liên quan đến vụ án. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Vũ Quốc T, qua kiểm tra xác định không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T.
Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS.TN ngày 09/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quan điểm về nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt truy tố đối với bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu pham tội được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những căn cứ trên, áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị đối với bị cáo và không có ý kiến, tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vế tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Tấn L tại phiên tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 28/12/2024, bị cáo Nguyễn Tấn L đã có hành vi cung cấp chất ma túy (cần sa), dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm sử dụng ma túy tại nhà không số thuộc ấp 1, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cho Vũ Quốc T sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện và xử lý.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 45/CT-VKS.TN ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì theo Kết luận giám định số 2742/QĐ-ĐCSMT của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 (một) hộp quẹt gas màu trắng.
- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, thuê bao số 0348.258.068 thu giữ của bị cáo. Đây là phương tiện bị cáo dùng để liên hệ trao đổi mua bán trái phép chất ma túy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A03 màu đen, thuê bao số 0586.832.472 thu giữ của Vũ Mạnh C. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Vũ Mạnh C, qua kiểm tra xác định không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho C là đúng quy định pháp luật.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu bạc, thuê bao số 0368.792.751 thu giữ của Vũ Quốc T. Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên không liên quan đến vụ án, không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, đây là tài sản của Vũ Quốc T nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T là đúng quy định pháp luật.
Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Quốc T tại nhà của bị cáo Nguyễn Tấn L. Quá trình điều tra xác định, T không có hành vi và việc làm cụ thể để phụ giúp bị cáo trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có cấu thành tội phạm. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Vũ Quốc T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (cần sa), quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với Vũ Mạnh C. Quá trình điều tra xác định, C không biết việc bị cáo L và T sử dụng trái phép chất ma túy cần sa (khi test nhanh C âm tính với chất ma túy). Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với C là có căn cứ.
Đối với người đàn ông giao cần sa cho bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo L không biết cụ thể họ tên, nơi cư trú, chổ ở, không nhớ được đặc điểm phương tiện, biển số xe người này đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất dữ liệu điện thoại nhưng không có thông tin số điện thoại do thiếu thông tin về đối tượng nên không xác định được.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 255, Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì theo Kết luận giám định số 2742/QĐ-ĐCSMT của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 (một) hộp quẹt gas màu trắng.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, thuê bao số 0348.258.068.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/4/2025 giữa Công an huyện Thống Nhất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CCTHADS huyện Thống Nhất; - Công an tỉnh Đồng Nai (phòng hồ sơ); - Phân trại tạm giam khu vực Thống Nhất; - Phòng PC10 Công an tỉnh Đồng Nai - UBND xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Cường |