vanban.org

Bản án 83/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D 39 (ba mươi chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/6/2024.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án; trả lại cho cho Anh Nguyễn Văn Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc D- Tổ chức SD ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D 39 (ba mươi chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/6/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 83/2024/HS-ST
Ngày 19 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Khắc Thái, bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Bùi Ngọc Tạo, là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên toà: ông Phạm Công Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 19/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST- HS ngày 07/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc D, tên gọi khác: không, sinh năm 1991 tại huyện N, tỉnh N.

Nơi cư trú: thôn Ch, xã VP, huyện N, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Hoàng Kim T và bà Phan Thị H; có vợ là Hoàng Thị Ng (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; tiền án: ngày 19/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 31/7/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện TTr, Thành phố H xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”, chấp hành xong bản án ngày 12/5/2018, đã được xóa án tích; ngày 02/6/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã VP, huyện N ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng, đến ngày 30/7/2021 tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do Hoàng Ngọc D bị khởi tố bị can về hành vi phạm tội mới; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, chuyển tạm giam ngày 11/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đinh Ngọc C, sinh năm 1984. Vắng mặt

Trú tại: thôn TrT, xã ĐP, huyện N, tỉnh N

2. Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1995. Vắng mặt

Trú tại: thôn ĐK, xã QL, huyện N, tỉnh N

Người làm chứng: ông Nguyễn Văn Th1, chị Nguyễn Thị D1 đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Ngọc D và Nguyễn Văn Th sinh năm 1995, trú tại thôn ĐK, xã QL, huyện N có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 16 giờ ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn Th đến nhà Hoàng Ngọc D ở thôn Ch, xã VP, huyện N chơi. Sau đó, D và Thanh đi bộ đến thị trấn N chơi; khi đi đến khu vực Bến xe khách N do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D bảo Thanh đi chậm lại đợi, còn D đi vào một ngõ nhỏ để tìm mua ma túy, D gặp và mua của một người nam giới không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D bỏ túi ma túy đá vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất vào túi khoác giả da mầu nâu đang đeo trên người. Sau đó, D bắt xe ôm cùng với Thanh đến nhà nghỉ Anh C của anh Đinh Ngọc C sinh năm 1984 ở thôn TrT, xã ĐP, huyện N để thuê nhà nghỉ. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D và Thanh vào phòng nghỉ số 205 nhà nghỉ Anh C, trong lúc Thanh đi tắm thì D đã ngồi ghế trong phòng nghỉ mở túi áo khoác giả da mầu nâu lấy túi ma túy đá vừa mua được, đồng thời lấy chai nước, ống thủy tinh, ống hút, kéo, bật lửa ga đem theo từ trước để chế thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó, D mở túi ma túy, lấy một phần cho vào trong ống thủy tinh rồi sử dụng bật lửa hơ nóng phần ống thủy tinh chứa ma túy, khi thấy ma túy đã bốc khói, D đã đưa lên miệng hút 04 lần. Thanh sau khi tắm xong đi ra ngồi vào ghế trong phòng nghỉ, thì D châm lửa cho Thanh đưa ống hút lên miệng hút 03 lần. Trong lúc D đang định sử dụng tiếp thì Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã ĐP đi vào kiểm tra thì phát hiện việc sử dụng ma túy. Tổ công tác đã thu giữ trên bàn 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá bên trong còn bám dính chất tinh thể mầu trắng, 02 ống thủy tinh mầu trắng, 01 ống thủy tinh bên trong chứa chất lỏng mầu nâu, 01 kéo kim loại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh, 01 túi ni lông mầu trắng bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng, 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc, 01 đoạn ống hút nhựa được cắt chéo một đầu. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 túi khoác giả da mầu nâu, thu giữ của Thanh 01 điện thoại di động nokia 1280 mầu đen. Sau đó, Tổ công tác đã đưa Hoàng Ngọc D, Nguyễn Văn Th cùng toàn bộ vật chứng thu giữ về tại trụ sở Công an xã ĐP lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Ngọc D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh N giám định chất ma túy và khối lượng ma túy đối với mẫu tinh thể mầu trắng bám dính trong ống thủy tinh (ký hiệu A1), mẫu chất tinh thể mầu trắng trong túi ni lông thu giữ (ký hiệu M3); đồng thời giám định mẫu nước tiểu của Hoàng Ngọc D (ký hiệu M1) và Nguyễn Văn Th (ký hiệu M2), để làm căn cứ xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 508/KL-KTHS-MT ngày 11/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

“- Chất tinh thể mầu trắng bám dính trong ống thủy tinh gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu M3 có khối lượng 0,1261 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại bản Kết luận giám định số 500/KL-KTHS-MT ngày 10/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

“Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Hoàng Ngọc D (ký hiệu M1) và mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn Th (ký hiệu M2) gửi giám định.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Đối với 01 ống thủy tinh mầu trắng có hình trụ tròn hai đầu nhỏ, ở giữa to bên trong chứa chất lỏng mầu nâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chất lỏng mầu nâu trong ống thủy tinh nêu trên (ký hiệu A4) có ma túy không, nếu có là loại ma túy gì, có hàm lượng, khối lượng bao nhiêu, để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 4736/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu chất lỏng mầu nâu (ký hiệu A4) gửi giám định”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã ra Quyết định chuyển các vật chứng gồm: 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm 01 ống thủy tinh ký hiệu A1, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm M3=0,0708 gam ma túy loại methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong cũ vụ Hoàng Ngọc D sinh năm 1991, trú tại thôn Ch, xã VP, huyện N xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hoàng Ngọc D; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Th; 01 túi khoác giả da mầu nâu; 01 bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng bên trong có 10 điếu thuốc lá; 01 chai nhựa mầu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” mầu trắng, chiều cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, nắp bằng nhựa mầu trắng đường kính 2,8cm trên nắp có 01 lỗ gắn 01 ống nhựa mầu tím dài 21cm, đường kính 0,6cm. Trên thân chai nhựa có 01 lỗ và 01 ống nhựa mầu trắng vàng dài 12cm; 01 bật lửa ga trong đó 01 bật lửa có gắn đầu đốt được quấn bằng giấu bạc mầu vàng; 01 ống thủy tinh mầu trắng có hình trụ tròn 02 đầu nhỏ, ở giữa to; 01 kéo kim loại tay nắm bọc nhựa mầu cam; 01 đoạn ông hút nhựa mầu tím dài 07cm, đường kính 0,6cm có một đầu cắt chéo; 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 4736/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ công an bên trong phong bì là 0,5ml chất lỏng mầu vàng nâu và vỏ bao gói niêm phong đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện N để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Hoàng Ngọc D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKSNQ- HS ngày 07/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Hoàng Ngọc D ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện N thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Ngọc D như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù đến 03(ba) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/6/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; trả lại cho Anh Nguyễn Văn Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm 01 ống thủy tinh ký hiệu A1, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm M3=0,0708 gam ma túy loại methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong cũ vụ Hoàng Ngọc D sinh năm 1991, trú tại thôn Ch, xã VP, huyện N xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hoàng Ngọc D; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Th; 01 túi khoác giả da mầu nâu; 01 bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng bên trong có 10 điếu thuốc lá; 01 chai nhựa mầu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” mầu trắng, chiều cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, nắp bằng nhựa mầu trắng đường kính 2,8cm trên nắp có 01 lỗ gắn 01 ống nhựa mầu tím dài 21cm, đường kính 0,6cm. Trên thân chai nhựa có 01 lỗ và 01 ống nhựa mầu trắng vàng dài 12cm; 01 bật lửa ga trong đó 01 bật lửa có gắn đầu đốt được quấn bằng giấu bạc mầu vàng; 01 ống thủy tinh mầu trắng có hình trụ tròn 02 đầu nhỏ, ở giữa to; 01 kéo kim loại tay nắm bọc nhựa mầu cam; 01 đoạn ông hút nhựa mầu tím dài 07cm, đường kính 0,6cm có một đầu cắt chéo; 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 4736/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ công an bên trong phong bì là 0,5ml chất lỏng mầu vàng nâu và vỏ bao gói niêm phong; bị cáo phải nộp án phí theo luật định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: tại phiên tòa bị cáo Hoàng Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: xuất phát từ việc Hoàng Ngọc D và Nguyễn Văn Th có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 16 giờ ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn Th và Hoàng Ngọc D đi đến thị trấn N chơi. Khi đến khu vực Bến xe khách N, D một mình đi vào một ngõ nhỏ gặp và mua được của một người nam giới không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, D bắt xe ôm cùng với Thanh đến nhà nghỉ Anh C của anh Đinh Ngọc C ở thôn TrT, xã ĐP, huyện N để thuê nhà nghỉ. Tại nhà nghỉ, khoảng 19 giờ cùng ngày, trong lúc Thanh đi tắm thì D đã ngồi ghế trong phòng nghỉ lấy túi ma túy đá vừa mua được cất trong túi áo, đồng thời lấy chai nước, ống thủy tinh, ống hút, kéo, bật lửa ga đem theo từ trước để chế thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó, D đã tự mình hút, sử dụng ma túy 04 lần. Thanh sau khi tắm xong đi ra ngồi vào ghế trong phòng nghỉ, thì D châm lửa cho Thanh đưa ống hút lên miệng hút 03 lần. Trong lúc D đang định sử dụng tiếp thì thì bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã ĐP đi vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá bên trong còn bám dính chất tinh thể mầu trắng, 02 ống thủy tinh mầu trắng, 01 ống thủy tinh bên trong chứa chất lỏng mầu nâu, 01 kéo kim loại, 01 điện thoại nhãn hiệu Itel mầu xanh, 01 túi ni lông mầu trắng bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng, 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 10 điếu thuốc, 01 đoạn ống hút nhựa được cắt chéo một đầu; 01 túi khoác giả da mầu nâu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen. Như vậy, rõ ràng bị cáo Hoàng Ngọc D đã có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện rồi đi mua chất ma túy loại Methamphetamine về cho Nguyễn Văn Th cùng sử dụng đúng như các kết luận giám định và Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên. Mục đích của bị cáo là cùng với Nguyễn Văn Th ngay trong buổi tối ngày 02/6/2024 sẽ sử dụng hết số ma túy mà bị cáo đã mua được. Phần ma tuý còn lại loại Methamphetamine trên mặt bàn ngay vị trí bị cáo D ngồi có khối lượng 0,1261 gam bị cáo D cùng đối tượng Thanh đang định tiếp tục sử dụng thì đã bị bắt quả tang nên không cấu thành tội tàng trũ trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy’’. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và số lần, số người mà bị cáo tổ chức sử dụng ma túy, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo theo khoản 1, khoản 5 Điều 255 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hoàng Ngọc D đang có 01 tiền án, lần phạm tội này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS, đồng thời bị cáo là người có nhân thân rất xấu.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng và là người có nhân thân rất xấu nên cần có một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo bằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương đối dài mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo Hoàng Ngọc D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân và bạn nghiện, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là thỏa đáng.

. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen không liên quan tội phạm nên cần trả lại cho Anh Nguyễn Văn Th; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh cũng không liên quan tội phạm cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án;

Đối với 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm 01 ống thủy tinh ký hiệu A1, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm M3=0,0708 gam ma túy loại methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong cũ vụ Hoàng Ngọc D sinh năm 1991, trú tại thôn Ch, xã VP, huyện N xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hoàng Ngọc D; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Th; 01 túi khoác giả da mầu nâu; 01 bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng bên trong có 10 điếu thuốc lá; 01 chai nhựa mầu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” mầu trắng, chiều cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, nắp bằng nhựa mầu trắng đường kính 2,8cm trên nắp có 01 lỗ gắn 01 ống nhựa mầu tím dài 21cm, đường kính 0,6cm. Trên thân chai nhựa có 01 lỗ và 01 ống nhựa mầu trắng vàng dài 12cm; 01 bật lửa ga trong đó 01 bật lửa có gắn đầu đốt được quấn bằng giấu bạc mầu vàng; 01 ống thủy tinh mầu trắng có hình trụ tròn 02 đầu nhỏ, ở giữa to; 01 kéo kim loại tay nắm bọc nhựa mầu cam; 01 đoạn ông hút nhựa mầu tím dài 07cm, đường kính 0,6cm có một đầu cắt chéo; 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 4736/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ công an bên trong phong bì là 0,5ml chất lỏng mầu vàng nâu và vỏ bao gói niêm phong là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Anh Nguyễn Văn Th là người được bị cáo Hoàng Ngọc D cung cấp chất ma túy để sử dụng. Việc bị cáo D mua ma túy, thuê nhà nghỉ để sử dụng ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy Th đều không biết. Nên Anh Nguyễn Văn Th không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Hành vi của Anh Nguyễn Văn Th đã bị Công an huyện N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với anh Đinh Ngọc C là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ Anh C hoạt động kinh doanh nhà nghỉ lưu trú có giấy kinh doanh và đảm bảo các điều kiện về ANTT, PCCC. Quá trình điều tra xác định, D và Thanh sử dụng trái phép chất ma túy, anh C là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ không biết. Do đó anh Đinh Ngọc C không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển tài liệu liên quan để Đội QLHC về TTXH Công an huyện N xử lý theo quy định là thỏa đáng.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo Hoàng Ngọc D ngày 02/6/2024 (theo lời khai của Hoàng Ngọc D) ở khu vực bến xe khách huyện N. Do Hoàng Ngọc D không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên không có cơ sở để xác minh điều tra làm rõ. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D 39 (ba mươi chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án; trả lại cho cho Anh Nguyễn Văn Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm 01 ống thủy tinh ký hiệu A1, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 508/KL-KTHS-MT vụ Hoàng Ngọc D, sinh năm 1991, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N bên trong là mẫu vật hoàn trả gồm M3=0,0708 gam ma túy loại methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì thư niêm phong theo quy định của pháp luật bên trong là vỏ túi, vỏ phong bì niêm phong cũ vụ Hoàng Ngọc D sinh năm 1991, trú tại thôn Ch, xã VP, huyện N xảy ra ngày 02/6/2024 tại xã ĐP, huyện N; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel mầu xanh) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hoàng Ngọc D; 01 phong bì thư (dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 mầu đen) và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Th; 01 túi khoác giả da mầu nâu; 01 bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng bên trong có 10 điếu thuốc lá; 01 chai nhựa mầu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” mầu trắng, chiều cao 18,5cm, đường kính đáy 06cm, nắp bằng nhựa mầu trắng đường kính 2,8cm trên nắp có 01 lỗ gắn 01 ống nhựa mầu tím dài 21cm, đường kính 0,6cm. Trên thân chai nhựa có 01 lỗ và 01 ống nhựa mầu trắng vàng dài 12cm; 01 bật lửa ga trong đó 01 bật lửa có gắn đầu đốt được quấn bằng giấu bạc mầu vàng; 01 ống thủy tinh mầu trắng có hình trụ tròn 02 đầu nhỏ, ở giữa to; 01 kéo kim loại tay nắm bọc nhựa mầu cam; 01 đoạn ông hút nhựa mầu tím dài 07cm, đường kính 0,6cm có một đầu cắt chéo; 01 phong bì niêm phong theo quy định pháp luật là mẫu vật hoàn trả sau giám định số 4736/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ công an bên trong phong bì là 0,5ml chất lỏng mầu vàng nâu và vỏ bao gói niêm phong (đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện N và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N).

3. Về án phí: bị cáo Hoàng Ngọc D phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ