- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thiện Tr và các bị cáo khác phạm tội theo Điều 255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? 1 Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-PT Ngày: 19-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trọng Danh
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Cảnh
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thiên Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên
Ngày 19/5/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử trực tuyến tại 02 điểm cầu (Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng) để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLPT-HS ngày 27/3/2023 đối với bị cáo Lê Thiện Tr và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Thiện Tr (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/8/1994 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn 3, xã Đ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: Đường Khánh An 11, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Thiện T (c) và bà Trần Thị L (s); Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 16/9/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 820/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2022. Có mặt.
2. Lê Anh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/02/1992 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tấn Tr và bà Đặng Thị Th (đều còn sống); Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 16/9/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 821/QĐ-XPHC
Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2022. Có mặt.
3. Mai Chí L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/01/1993 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã Q, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: Số 4x P Lý 4, phường M, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Văn C và bà Võ Thị Th1 (đều còn sống); Tiền án, tiền sự: chưa;
Nhân thân:
- Ngày 17/02/2011 bị Công an huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam xử phạt số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Say rượu bia gây mất trật tự công cộng mà chưa đến mứ truy cứu trách nhiệm hình sự” theo Quyết định số 20/QĐ-XPHC. Chấp hành xong ngày 18/02/2011.
- Ngày 16/9/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 822/QĐ-XPHC
Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2022. Có mặt.
4. Nguyễn Trọng G (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/12/1993 tại tỉnh Thừa Thiên – Huế; Nơi ĐKNKTT: Thôn Mong B, xã P, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế; Chỗ ở: Số 6x P Lý 4, phường M, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông Nguyễn Văn Cần và bà Lê Thị Thành Tín (đều còn sống); Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 16/9/2022 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 823/QĐ-XPHC
Bị cáo bị bắt ngày 24/8/2022. Có mặt tại điểm cầu.
Ngoài ra trong vụ án còn các các bị cáo Trần Đình Đ, Nguyễn Tấn P nhưng các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị.
* Tham gia tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và Thư ký phiên tòa.
* Tham gia tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Các bị cáo: Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G.
- Cán bộ, chiến sỹ của Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng:
+ Ông Trần Hoàng Vũ; Chức vụ: Cán bộ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 35 phút ngày 24.8.2022, tại Phòng 101 Karaoke Toàn Ny, quận Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh điều tra tội phạm về ma tuý Công quận Liên Chiểu tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tại thời điểm phát hiện, trong phòng 101 còn có mặt Nguyễn Thị Diễm P, Phan Thị V, Lê Thị Hồng A. Thu giữ: 01 dĩa sứ màu trắng; ma tuý loại Ketamine khối lượng 0,294 gam; 01 ống hút được tiền 10.000 đồng, 01 cái thẻ nhựa màu xanh.
Quá T điều tra, từ lời khai của Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G, người chứng kiến và các vật chứng thu giữ xác định: Vào tối ngày 23/8/2022, Tr, T, L và G đi hát karaoke tại quán Toàn Ny, trong lúc hát thì cả nhóm thống nhất góp tiền để mua ma tuý về sử dụng và Tr là người bỏ tiền ra mua ma tuý và cả nhóm sẽ góp tiền trả lại sau. Sau đó, Tr lấy 2.000.000 đồng đưa cho T để đi mua ma tuý. Cũng lúc này, Trần Đình Đ và Nguyễn Thị Diễm P - là bạn của nhóm Tr cũng lên phòng chơi nên T hỏi Đ để mua 01 chỉ ma tuý hàng Khay. Sau đó Đ liên hệ với Nguyễn Tấn P để hỏi mua ma tuý, P liên hệ với người tên Lỳ (chưa rõ nhân thân, lại lịch) hỏi mua ma tuý và cho số của Đ để Lý liên hệ giao ma tuý. Sau một lúc thì Đ đi ra phía sau quán karaoke Toàn Ny đưa 1.800.000 đồng cho người thanh niên (không rõ lai lịch) để người này đem ma tuý lên phòng cho nhóm của T và hưởng lợi 200.000 đồng từ việc mua ma tuý cho T rồi đi khỏi quán. Người thanh niên này đem ma tuý lên phòng, đổ gói ma tuý ra dĩa sứ màu trắng rồi lấy ra 01 cái thẻ màu xanh cà mịn số Ketamine, để trên bàn rồi đi ra. Lúc này Tr, T, L, G tiến hành sử dụng ma tuý, đưa ma tuý cho Nguyễn Thị Diễm P và Phan Thị V, Lê Thị Hồng A (là nhân viên của quán karaoke Toàn Ny lên sau để phục vụ) để sử dụng nhưng P, V, A không sử dụng. Cả nhóm Tr, T, L, G sử dụng ma tuý đến 01 giờ 35 ngày 24/8/2022 thì bị kiểm tra hành chính, bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại Bản án sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Thiện Tr 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Anh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Mai Chí L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Trọng G 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Đình Đ, Nguyễn Tấn P nhưng các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 27/02/2023, các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G có đơn kháng cáo với cùng nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét theo T tự phúc thẩm để được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã mô tả. Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung kháng cáo: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng tội. Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T mỗi bị cáo 08 năm 06 tháng tù, bị cáo Mai Chí L và Nguyễn Trọng G mỗi bị cáo 07 năm 06 tháng tù là phù hợp. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo L không có tình tiết giảm nhẹ nào mới; bị cáo Tr, T và L có tham gia nghĩa vụ quân sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm áp dụng. Tuy nhiên xét thấy mức hình phạt của các bị cáo Anh, T và L là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào tối ngày 23/8/2022, tại quán karaoke Toàn Ny, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G thống nhất góp tiền để mua ma túy loại ketamine để sử dụng. Lê Thiện Tr đưa trước số tiền 2.000.000 đồng cho Lê Anh T và T trực tiếp liên hệ Trần Đình Đ để mua ma túy. Sau đó, Đ liên hệ với Nguyễn Tấn P và P tiếp tục liên hệ với đối tượng tên Lý, yêu cầu cung cấp 01 chỉ ketamine cho cả nhóm cùng sử dụng. Khoảng 01 giờ 35 phút ngày 24/8/2022, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy sau khi cả nhóm sử dụng xong là 0,294 gam.
Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Xét nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, Mai Chí L, Nguyễn Trọng G, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Các bị cáo có nhận thức đầy đủ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, tổ chức cho bản thân cùng sử dụng ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật, xem xét đầy đủ về nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, xử phạt bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T mỗi bị cáo 08 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Anh T, Lê Thiện Tr, Mai Chí L có tham gia nghĩa vụ quân sự nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết này cho các bị cáo. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Tr và T, giảm một phần hình phạt cho hai bị cáo. Đối với bị cáo L có nhân thân xấu nên không thể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo L. Còn bị cáo G không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, vì vậy không có căn cứ đẻ giảm nhẹ hình phạt.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Các bị cáo Lê Anh T, Lê Thiện Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Các bị cáo Mai Chí L, Nguyễn Trọng G phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng về việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo
1.1 Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Thiện Tr 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022,
1.2 Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Anh T 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
2. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Chí L, Nguyễn Trọng G; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 28/2023/HSST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng về việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo
2.1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Mai Chí L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
2.2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Trọng G 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.
3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Các bị cáo Mai Chí L, Nguyễn Trọng G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Lê Thiện Tr, Lê Anh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Liên Chiểu; - VKSND quận Liên Chiểu; - CQCSĐT Công an quận Liên Chiểu ; - Toà án nhân dân quận Liên Chiểu; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Trại giam Hòa Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. Các Thẩm phán Trần Minh Long Phan Vĩnh Chuyển | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Trọng Danh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cảnh |