vanban.org

Bản án 83/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa chữa bản án số 83/2022/ HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ như sau:

1/ Tại dòng thứ 18 từ dưới lên trang 1 bản án ghi: Bị cáo Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1981. Tại tỉnh Khánh Hòa Nay sửa chữa như sau: Bị cáo Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1981. Tại Quảng Ngãi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Sửa chữa bản án số 83/2022/ HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 83/2022/HS-ST
Ngày 21/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH V

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Thanh Hiếu

2/ Ông Trần Thanh Khen

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phg – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L - tỉnh V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: ông Lê Tây Bắc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 21 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1/ Bị cáo Đặng Thị Hg, sinh ngày 01/01/1980. Tại tỉnh K

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Diên Đ, huyện D, tỉnh K

Tạm trú: đường Phó Cơ Điều, Khóm 6, phường 4, thành phố V, tỉnh V.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Đặng V, sinh năm 1949; Mẹ: Ngô Thị H, sinh năm 1954; Anh, chị, em ruột: 07 người (Lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1998 ); Chồng: Đinh Ngọc L, sinh năm 1980; Con: 05 người (Lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2022 đến nay có mặt tại toà.

2/ Bị cáo Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1981. Tại tỉnh K

Nơi cư trú: Thôn 2, xã D, huyện D, tỉnh K

Tạm trú: đường Phó Cơ Điều, Khóm 6, phường 4, thành phố V, tỉnh V

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Lê Văn H, sinh năm 1954; Mẹ: Dương Thị B, sinh năm 1953; Anh, chị, em ruột: 03 người (Lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất bị cáo); Chồng: Huỳnh Phê Đ, sinh năm 1977; Con: 05 người (Lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền sự: Không; Tiền án: Không

Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2022 đến nay có mặt tại toà.

3/ Bị cáo Nguyễn Thành D, sinh ngày 10/4/1995. Tại tỉnh Q

Nơi cư trú: Xóm 5, Thôn p, xã B, huyện B, tỉnh Q. ( Xóm Phú Thọ, Thôn P Tích, xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).

Tạm trú: đường Phó Cơ Điều, Khóm 6, phường 4, thành phố V, tỉnh V

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Thành S, sinh năm 1964; Mẹ: Ngô Thị T, sinh năm 1963; Anh, chị, em ruột: 06 người (Lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1998); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; Con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2022 đến nay có mặt tại toà.

4/ Bị cáo Huỳnh Tấn P, sinh ngày 10/11/ 1975. Tại tỉnh Q

Nơi cư trú: Đội 6, thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Q.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Huỳnh Tấn Sơn, sinh năm 1940; Mẹ: Ngô Thị Xuân Nhị, sinh năm 1951; Anh, chị, em ruột: Không; Vợ: Bùi Thị Hà, sinh năm 1981; Con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2022 đến nay có mặt tại toà.

Tạm trú: đường Phó Cơ Điều, Khóm 6, phường 4, thành phố V, tỉnh V

5/ Bị cáo Phạm Thị Phương T, sinh ngày 07/3/1992. Tại tỉnh Q.

Nơi thường trú: Thôn P Tích, xã B, huyện B, tỉnh Q.

Tạm trú: Xóm 2 Nam, thôn Thạch An, xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Phạm T (đã chết); Mẹ: Trần Thị M (đã chết); Anh, chị, em ruột: 02 người (Lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất bị cáo); Chồng: Nguyễn Tấn V, sinh năm 1990; Con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền sự: Không

Tiền án: Tại bản án số 24/2020/HS-ST ngày 25/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phại bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản

Nhân thân: Đã có tiền án.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác có mặt tại toà.

Bị hại:

1/ Mai Kiều L, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp l, xã L, huyện L, tỉnh V

2/ Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh V

3/ Trần Kim N, sinh năm 2000

Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh V

4/ Lê Thị Ngọc G, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh V.

5/ Nguyễn Thị T N, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh V

6/ Trần Thị P, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh T

7/ Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1981

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh V

8/ Lê Kim Th, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh V

9/ Lê Thị Hồng P, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh V

10/ Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh V.

11/ Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp B, xã L huyện L, tỉnh V

12/ Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp Mỹ Phú 3, xã M, huyện T, tỉnh V

13/ Lê Hồng H, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh V

14/ Phạm Nguyễn Thị Thiên Hg, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh V.

15/ Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh V

16/ Lê Mai T, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện L, tỉnh V

17/ Lý Thị Tuyết V, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh V

18/ Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1987

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh V

Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thị Hg không có nghề nghiệp, nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên Hg nảy sinh ý định đến các khu công nghiệp, khu vực đông dân cư để tìm đối tượng bị hại là phụ nữ có điện thoại, Hg cùng đồng bọn cố tình chen lấn để làm mất tập trung đối với bị hại và lén lút lấy trộm điện thoại của bị hại bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hg chủ động liên hệ rủ Lê Thị H, Nguyễn Thành D và Huỳnh Tấn P, Phạm Thị Phg T cùng thực hiện trộm cắp thì được H, D, P, T đồng ý và hẹn gặp nhau tại Vĩnh Long. Ngày 19/3/2022 Hướng đón xe khách từ tỉnh Khánh Hòa đi đến địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Khoảng 16 giờ ngày 20/3/2022 Hg, H, D, P gặp nhau tại khu vực vòng xoay Trường An thuộc thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long rồi cùng nhau đến thuê phòng trọ số 14 và số 15 nhà trọ Khoa Văn tại số 64/7, đường Phó Cơ Điều, khóm 6, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long để ở và chuẩn bị cho việc trộm cắp tài sản. Khoảng 16 giờ ngày 21/3/2022 T đi cùng với Nguyễn Thanh Tình, sinh năm 1998, Thôn P Tích, xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đến thành phố Vĩnh Long gặp nhóm của Hg.

Nhiệm vụ của D, P là điều khiển xe mô tô chở Hg và H đi đến khu vực khu công nghiệp, khu dân cư có nhiều công nhân và ở trên xe chờ sẳn, khi lấy được tài sản thì Hg và H ra xe để tẩu thoát. Nhiệm vụ của H, T đi theo Hg chủ yếu chen lấn gây mất tập trung của bị hại cho Hg lấy trộm điện thoại.

Khoảng 06 giờ ngày 21/3/2022 D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61F1-497.01 chở Hg. P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65H1-152.96 chở H cùng đến khu công nghiệp Hòa Phú thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Hg cùng đồng bọn đến trước cổng B Công ty Tỷ Xuân tìm cơ hội lấy trộm tài sản của công nhân, lợi dụng sự đông người H tiếp cận chen lấn làm mất cảnh giác của chị Mai Kiều Linh, sinh năm 1985, cư trú ấp Long Hòa, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ để Hg dùng tay phải móc túi quần bên phải lấy 01 điện thoại di động hiệu Vivo I19 của chị Linh đang đứng mua chuối chiên.

Kết luận định giá số 24 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Vivo I19 của chị Mai Kiều Linh có giá trị: 2.100.000 đồng.

Tiếp tục lợi dụng sự đông người, khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày Hg cùng đồng bọn đến đường nội bộ khu công nghiệp Hòa Phú, khu vực trước tiệm Mỹ phẩm Thanh Ngọc 2, thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ. H tiếp tục cố tình chen lấn để làm mất cảnh giác của chị Nguyễn Thị Bích Tuyền, sinh năm 1992, cư trú ấp P Lợi, xã Thạnh Quới, huyện Long Hồ để Hg lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu đen trong túi quần bên phải của chị Tuyền đang đứng mua xôi.

Kết luận định giá số 25 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu đen chị Nguyễn Thị Bích Tuyền có giá trị 1.200.000 đồng.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày Hg cùng H đến trước cổng B của Công ty Tỷ Xuân thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ. H tiếp tục cố tình chen lấn để làm mất cảnh giác của chị Trần Kim Nhật, sinh năm 2000, cư trú ấp 2, xã Tân Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long để Hg lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64G trong túi quần bên phải của chị Nhật đang mua nước uống.

Kết luận định giá số 17 ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 64G của chị Trần Kim Nhật có giá trị 15.000.000 đồng.

Khoảng 07 giờ 20 phút cùng ngày Hg cùng H tiếp tục đến đường nội bộ Khu công nghiệp Hòa Phú, ngay ở ngã tư đường giao nhau trước gốc đường trước tiệm bột bánh xèo Hg Xưa thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ. Cũng với thủ đoạn như trước H cố tình chen lấn làm mất cảnh giác của bị hại để Hg lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPP0 A15 ốp lưng hình đoreamon trong túi sách mang sau lưng của chị Lê Thị Ngọc G, sinh năm 1995, cư trú số 06/18, ấp Phú Nghĩa, xã Tân Phú, huyện Tam Bình.

Kết luận định giá số 23 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPP0 A15 của chị Lê Thị Ngọc G có giá trị 1.800.000 đồng.

Sau khi lấy trộm được 04 điện thoại di động thì Hg, H, D, P đem tài sản lấy trộm được về cất giấu tại phòng trọ số 14 nhà trọ Anh Khoa.

Với thủ đoạn như các lần trước đó, ngày 23, 24, 25, 26 và 28/3/2022 Hg, H, D, P, T tiếp tục đến khu công nghiệp Hòa Phú để tìm tài sản lấy trộm đem về phòng trọ số 14 nhà trọ Anh Khoa cất giấu.

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 23/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến sạp rau, củ của chị Nguyễn Thị Trữ thuộc ấp P Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A52S trong túi áo khoác của chị Nguyễn Thị T Nguyên, sinh năm 1992, cư trú ấp Phú Thạnh A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ. Khi phát hiện mất tài sản chị T Nguyên truy hô Hg cùng đồng bọn lên xe tẩu thoát.

Kết luận định giá số 13 ngày 30/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A52S của chị Nguyễn Thị T Nguyên có giá trị: 5.500.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến khu vực vĩa hè đường nội bộ khu Công nghiệp Hòa Phú trước quán cà phê Lộc Vừng 6 thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S trong túi quần bên phải của chị Trần Thị Phe, sinh năm: 1990, cư trú ấp Vĩnh An, xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đang mua dưa hấu.

Kết luận định giá số 26 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S của chị Trần Thị Phe có giá trị 500.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 23/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến trước cổng B của Công ty Tỷ Xuân thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S màu xanh trong túi áo khoác bên trái của chị Nguyễn Ngọc Tuyết, sinh năm: 1981, cư trú ấp Tân Nhơn, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 27 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21S màu xanh của chị Nguyễn Ngọc Tuyết có giá trị 2.900.000 đồng.

Tiếp tục khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến ngã tư trước tiệm bột bánh xèo Hg Xưa thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6Z màu xanh trong túi quần bên trái của chị Lê Kim Thoa, sinh năm 1986, cư trú ấp Thạnh Lợi, xã Thạnh Quới, huyện Long Hồ đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 22 ngày 05/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6Z màu xanh của chị Lê Kim Thoa có giá trị 6.580.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 24/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến trước cổng B của Công ty Tỷ Xuân thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 trong túi quần bên phải của chị Lê Thị Hồng Phiến, sinh năm 1995, cư trú ấp Lung Đồng, xã Phú Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 30 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 của chị Lê Thị Hồng Phiến có giá trị 2.500.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 24/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến khu dịch vụ mua bán trái cây tự phát ở đường nội bộ khu Công nghiệp Hòa Phú thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4 để trong túi sách mang bên phải của chị Nguyễn Thị Bích Liễu, sinh năm 1995, cư trú ấp P Lợi C, xã P Hậu, huyện Long Hồ đang đứng mua trái cây.

Kết luận định giá số 28 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4 của chị Nguyễn Thị Bích Liễu có giá trị 900.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến trước cổng B của Công ty Tỷ Xuân, Khu công nghiệp Hòa Phú thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71 trong túi quần bên phải của chị Nguyễn Thị Hải Yến, sinh năm 1986; cư trú ấp Bà Lang, xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 18 ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71 có giá trị 4.700.000 đồng.

Khoảng 18 giờ ngày 25/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến vĩa hè trước quán cà phê Mai thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung Glaxy J6 trong túi quần trước bên phải của chị Nguyễn Cẩm Tiên, sinh năm 1992, cư trú ấp Mỹ Phú 3, xã Mỹ Thạnh Trung, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đang đứng mua trái cây.

Kết luận định giá số 31 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 của chị Nguyễn Cẩm Tiên có giá trị 500.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 25/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến trước nhà của chị Trần thị Như Tuyết thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55 màu xanh trong túi quần trước bên phải của chị Lê Hồng Hạnh, sinh năm 1983, cư trú ấp Phú Ninh, xã Song Phú, huyện Tam Bình đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 29 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55 màu xanh của chị Lê Hồng Hạnh có giá trị 3.000.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 25/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến gần giữa ngã tư khu dịch vụ bán cá trên đường nội bộ Khu Công nghiệp Hòa Phú thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 trong túi quần trước bên trái của chị Phạm Nguyễn Thị Thiên Hg, sinh năm 1988, cư trú ấp Phú Hữu Tây, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 19 ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu samsung A32 của chị Phạm Nguyễn Thị Thiên Hg có giá trị 2.700.000 đồng.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến phía sau Công ty Tỷ Xuân trên đường nội bộ Khu Công nghiệp Hòa Phú thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A31 trong túi quần bên phải của chị Phạm Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1991, cư trú ấp Thân Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 32 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A31 của chị Phạm Thị Hồng Hạnh có giá trị 1.800.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến vĩa hè khu buôn bán tép gần quán cà phê Lộc Vừng 3 thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, Hg lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 trong hộp xe phía trước của xe vison của chị Lê Mai T, sinh năm 1995, ấp P Tân, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 33 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A92 của chị Lê Mai T có giá trị 1.800.000 đồng.

Khoảng 18 giờ ngày 28/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến lối đi trong nhà lồng chợ tự phát thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO RNO 5 trong túi xách của chị Lý Thị Tuyết Vân, sinh năm: 1990, cư trú ấp Tân Hiệp, xã Tân Long, huyện Mang Thít đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 21 ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RNO 5 của chị Lý Thị Tuyết Vân có giá trị 3.000.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/3/2022, Hg cùng đồng bọn đến đường nội bộ Khu công nghiệp Hòa Phú trước tiệm sửa xe Lê Quang thuộc ấp Thạnh H, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A91 để trong túi quần bên phải của chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, sinh năm 1987, cư trú ấp Phú Thuận, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đang đứng mua thực phẩm.

Kết luận định giá số 34 ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A91 của chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh có giá trị 2.300.000 đồng.

Ngoài ra Hg, P, D, T còn khai nhận vào thời gian từ ngày 21/3/2022 đến ngày 28/3/2022 cùng H đến khu vực khu công nghiệp Hòa Phú lấy trộm của 06 người phụ nữ không rõ nhân thân 06 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y21; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max, 01 điện thoại di động hiệu Iphoen X, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 3, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 6Z. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm bị hại nh đến nay chưa có bị hại đến nhận.

Kết luận định giá số 42 ngày 01/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y21 có giá trị 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max có giá trị 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphoen X có giá trị 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 3 có giá trị 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 có giá trị 2.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 6Z có giá trị 3.000.000đồng. Tổng giá trị 19.500.000 đồng.

Sau khi trộm được tài sản Hg cùng đồng bọn đem tất cả các điện thoại trộm được về nhà trọ Khoa Văn cất giấu. Ngày 29/3/2022 chị Nguyễn Thị T Nguyên định vị được chiếc điện thoại của chị bị mất ngày 23/3/2022 đang ở địa chỉ nhà trọ Khoa Văn tại số 64/7, đường Phó Cơ Điều, khóm 6, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long trình báo Công an.

Cơ quan điều tra Công an huyện Long Hồ phối hợp với Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long tiến hành kiểm tra nhà trọ Khoa Văn phát hiện phòng số 14 của Đặng Thị Hg thuê trọ thu giữ 43 điện thoại di động không rõ nguồn gốc và thu giữ các tài sản khác gồm:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 61F1-497.01.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H1-152.96.

- 02 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng.

- 02 điện thoại di động hiệu Iphone:01 Iphone x max và 01 I phone x màu trắng

- 01 điện thoại di động hiệu Sam sung.

- 01 điện thoại di động hiệu iphone 5.

- 01 áo khoác dài tay màu đen có hoa văn đen trắng.

- Tiền Việt Nam 3.400.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định 43 điện thoại thu giữ trong đó có 24 điện thoại mà Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P, Phạm Thị Phg T lấy trộm khu vực huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và 19 điện thoại Hg cùng đồng bọn thực hiện lấy trộm tại khu công nghiệp thuộc các tỉnh Hậu Giang, tỉnh An Giang và tỉnh Trà Vinh.

Đối với Nguyễn Thanh Tình là người chở T đi không biết T cùng với Hg lấy trộm tài sản nên không đồng phạm với nhóm của Hg.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản 24 điện thoại Đặng Thị Hg cùng đồng bọn lấy trộm trên địa bàn huyện Long Hồ đã được trả lại cho 18 bị hại, các bị hại không có yêu cầu bồi thường.

Đối với 19 điện thoại di động Đặng Thị Hg cùng đồng bọn lấy trộm trên địa bàn các tỉnh Hậu Giang, tỉnh An Giang và tỉnh Trà Vinh. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ phối hợp bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tại nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản để giải quyết theo đúng thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số: 76/CT-VKS.LH ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố các bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D và Huỳnh Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Phạm Thị Phg T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ý kiến kiểm sát viên tại tòa: Bảo lưu quan điểm bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P và bị cáo Phạm Thị Phg T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

+ Đề nghị: áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Hg từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

+ Đề nghị: áp dụng điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù

+ Đề nghị: áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù .

+ Đề nghị: áp dụng điểm a, điểm b điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù

+ Đề nghị: áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Phg T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 24/2020/HT-ST ngày 25/6/2020 của Toà án nhân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu sung quỹ:

+ 02 điện thoại (01 Iphone x màu trắng và 01 Iphone 11 màu vàng) của bị cáo Hg; 01 điện thoại của bị cáo H (Iphone 11 màu vàng).

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter biển kiểm soát 61F1-497.01; 01 điện thoại (Iphone Xmax ); 01 điện thoại Samsung của bị cáo D.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H1-152.96; 01 điện thoại (Iphone 5) của bị cáo P.

+ 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y21; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z.

- Tịch thu hủy bỏ: 01 Chiếc áo khoát của bị cáo Đặng Thị Hg:

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thành D số tiền là 900.000đồng và bị cáo Huỳnh Tấn P số tiền 2.500.000đồng .

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do đương sự không có yêu cầu.

Về án phí: Đề nghị án dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 buộc mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến bị cáo tại tòa:

Bị cáo Hg trình bày: Mục đích bị cáo rủ D, P và H vào Vĩnh Long là đi trộm. Ban đầu là bị cáo nói xuống Vĩnh Long kiếm việc làm, nh sau đó bị cáo rủ đi vào khu công nghiệp vào chổ đông người để lấy điện thoại. D chở bị cáo, P chở bị cáo H. Sau đó bị cáo không nhớ ngày thứ mấy Tình và T đến Vĩnh Long. T cũng có đi theo trộm cùng mấy lần thì không nhớ. Bị cáo kêu H, T mua đồ là để đánh lạc hướng người có tài sản

Bị cáo H trình bày: Hg rủ bị cáo vào tìm việc làm, bị cáo đi theo vào Vĩnh Long sau đó Hg rủ vào chợ Khu công nghiệp giờ tan ca, bị cáo thấy Hg lấy điện thoại của người khác chứ bị cáo không tham gia, Hg có kêu bị cáo mua đồ nh thực tế bị cáo không có mua.

Bị cáo P trình bày: Hg kêu bị cáo vào Vĩnh Long chở Hg đi bán đồ, mỗi ngày trả bị cáo 250.000đồng, khi vào Vĩnh Long bị cáo chở H, D chở Hg. Bị cáo chở H đi cùng D và Hg vào khu công nghiệp và chợ chổ đông người, bị cáo và D chờ ở ngoài Hg và H đi vào bên trong, một lúc sau thì bị cáo chở H về, có lúc đi 02 buổi cùng một ngày. Bị cáo biết Hg đi trộm cắp điện thoại.

Bị cáo D trình bày: Hg rủ bị cáo vào Vĩnh Long tìm việc làm, khi đi bị cáo chỉ có 01 triệu đồng, đến Vĩnh Long bị cáo còn có mấy trăm ngàn. Bị cáo chở Hg, P chở H, còn Tình chở T nh Tình và T mấy ngày sau mới vào Vĩnh Long. Tình không biết việc bị cáo chở Hg đi trộm, bị cáo chỉ rủ Tình vào Vĩnh Long chơi chứ không rủ Tình vào trộm.

Bị cáo T trình bày: D điện cho Tình, lúc đo có bị cáo ở đó, Hg mới nói chuyện và rủ bị cáo vào Vĩnh Long, bị cáo đồng ý. Ngày 21/3/2022 bị cáo đến Vĩnh Long cùng Tình. Khi đến Vĩnh Long bị cáo mệt nên ở nhà trọ khoảng 02 ngày, sau đó Hg rủ bị cáo đi đến Khu công nghiệp, khi đi có 06 người gồm D chở Hg; P chở H và Tình chở bị cáo khi đến Khu công nghiệp thì Tình, P và D ở bên ngoài xe. Còn bị cáo, Hg và H đi vào nơi đông người. Hg kêu bị cáo mua đồ là bị cáo biết mục đích là làm động tác để cho Hg và H lấy điện thoại của người khác. Bị cáo thực hiện 02 ngày, đó là ngày 24 và 25/3/2022 vào buổi sáng và buổi chiều, sau đó bị cáo sợ và không đi nữa. Vào ngày 24/3/2022 bị cáo có nói cho Tình biết việc đi trộm của Hg và H. Đến ngày 25/3/2002 Tình vẫn chở bị cáo đi cùng nhóm nh khi đi thì chỉ nói đi uống cafe

Anh Nguyễn Thanh Tình trình bày: Tôi vào T do có tình cảm nam nữ với nhau nên trước đây tôi không khai là đi cùng T vào Vĩnh Long. Anh D rủ tôi vào Vĩnh Long chơi, tới Vĩnh Long tôi là người chở T, tôi không biết việc Hg, H, D và P đi trộm. Tôi cũng không tham gia trộm cùng họ. Khi T nói việc Hg trộm điện thoại thì tôi có nói với D là sẽ về. Ngày sau tôi đi cùng với T là để uống café, sau đó T đi vào khu chợ cùng Hg thì tôi không biết.

Lời sau cùng các bị cáo trình bày:

Bị cáo Hg trình bày: Xin lỗi bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được về lo cho các con.

Bị cáo H trình bày: Bị cáo biết lỗi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu cũng như lần cuối, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo D trình bày: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai.

Bị cáo P trình bày: Bị cáo xin giảm án, sớm về lo cho vợ cho con, bị cáo là trụ cột gia đình.

Bị cáo T trình bày: Bị cáo đã biết việc làm của bị cáo là sai, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về lo cho hai con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ phía người tham gia tố tụng.

Tại toà vắng mặt bị hại Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đã nhận lại tài sản, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà đã phù hơp với lời khai của bị can tại hồ sơ. Phù hợp lời khai người bị hại, người làm chứng và tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Toàn bộ tài sản bị trộm được định giá là 78.280.000đồng. Đã đủ chứng cứ để xác định các bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P và Phạm Thị Phg T đã phạm tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng số 76/CT-VKS.LH ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P về tội trộm cắp tài sản theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Phạm Thị Phg T theo điểm a, b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, các bị cáo là những đối tượng ở xa địa bàn gây án, nh đã tập hợp lại dưới sự rủ rê của bị cáo Hg để đi tìm tòi và lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Các bị cáo thực hiện hành vi rất táo bạo, gây mất trật tự cho đời sống bình thường của mọi người, gây hoan mang ở những nơi đông người đang lao động, sản suất. Do đó, phải xử lý nghiêm minh các bị cáo để lập lại trật tự xã hội.

Đối với tình tiết định khung tăng nặng: Mặc dù các bị cáo quanh co không khai báo diễn biến khách quan của hành vi một cách rõ ràng. Nh qua lời khai của tất cả các bị cáo đã thể hiện được vai trò chủ mưu cầm đầu của bị cáo Đặng Thị Hg chính bị cáo đã rủ rê, sắp xếp công việc cụ thể cho mỗi đồng phạm, những tình huống các đồng phạm phải xử lý khi bị phát hiện. Cho thấy, có sự cấu kết chặt chẽ hành động của mỗi người, đây là yếu tố phạm tội có tổ chức.

Tổng số tài sản các bị cáo chiếm đoạt là trên 50.000.000đồng là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo T , bị cáo tham gia trong 02 ngày. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không phân định được giá trị ( do Hg tự cất giữ) nên việc không áp dụng tình tiết giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 50.000.000đồng đối với bị cáo T là phù hợp.

Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, khi thực hiện tội phạm, các bị cáo không xác định thời gian sẽ kết thúc hành vi. Trên thực tế, các bị cáo phạm tội liên tục, hơn 05 lần và mỗi lần chiếm đoạt tài sản của bị hại đều có giá trị trên 2.000.000đồng. Khi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo Hg, H và bị cáo T có dàn dựng rất tinh vi, nhanh nhẹn làm cho người bị hại mất đi sự cảnh giác. Cho thấy, các bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Đối với bị cáo D và bị cáo P, mặc dù 02 bị cáo không trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại nh 02 bị cáo cũng đã phạm tội hơn 05 lần. Sự thống nhất hành động giữa 02 bị cáo và các bị cáo còn lại có sự nhịp nhàng, chặt chẽ. Do đó, 02 bị cáo cũng phải bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Trong vụ án có đồng phạm, việc đánh giá tính chất, mức độ của mỗi đồng phạm để quyết định hình phạt là cần thiết.

+ Đối với bị cáo Hg: Bị cáo giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu và trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, Toàn bộ tài sản chiếm đoạt được bị cáo là người quản lý và quyết định nên hình phạt của bị cáo phải nghiêm khắc nhất.

+ Đối với bị cáo H: Bị cáo tham gia với vai trò giúp sức tích cực, hầu hết các lần phạm tội đều có sự tham gia của bị cáo nên hình phạt bị cáo phải cao hơn các bị cáo còn lại.

+ Đối với bị cáo D và bị cáo P: Hai bị cáo giữ vai trò giúp sức cho bị cáo Hg và bị cáo H tẩu thoát sau khi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, sự tham gia của D tích cực hơn. Ngoài các vụ trộm tại địa bàn huyện Long Hồ, bị cáo còn tham gia trộm cắp tài sản ở những tỉnh khác, bị cáo có mối quan hệ gần gủi với bị cáo Hg là người giữ vai trò chủ mưu cần đầu và được Hg cho lợi ích trước các bị cáo khác, nên hình phạt của bị cáo D phải cao hơn bị cáo P.

+ Đối với bị cáo T: Bị cáo tham gia số lần trộm cũng ít hơn các bị cáo khác, vai trò của bị cáo là giúp sức cho bị cáo Hg và bị cáo H. Do đó, hình phạt của bị cáo cũng phải tương xứng với tính chất mức độ phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo chiếm đoạt tài sản trên hai lần và một lần chiếm đoạt tài sản đều trên 2.000.000đồng là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Thị Phg T đã bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt lại phạm tội mới là trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Hg, H, D và bị cáo P. Sau khi phạm tội các bị cáo đã khai nhận hành vi nh không rõ ràng, các bị cáo có sự thay đổi lời khai trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa. Cho thấy, các bị cáo chưa thật sự thành khẩn, nên tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử chỉ cho bị các bị cáo hưởng trong giới hạn. Đối với bị cáo T, bị cáo có thật thà, thể hiện được sự ăn năn. Lời khai của bị cáo tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa có sự phù hợp khách quan với tình tiết của vụ án. Do đó, tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự bị cáo được hưởng trọn vẹn.

Các bị cáo đều là thành phần lao động nghèo, có hoàn cảnh khó khăn. Hậu quả của vụ án có phần hạn chế là do tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

+ 02 điện thoại (01 Iphone X Max màu trắng và 01 Iphone 11 ProMax) của bị cáo Hg; 01 điện thoại của bị cáo H (Iphone 11).

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 61F1-497.01; 01 điện thoại (Iphone X Max); 01 điện thoại Samsung của bị cáo D.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H1-152.96; 01 điện thoại (Iphone 5) của bị cáo P.

Tất cả tài sản trên là phg tiện các bị cáo thực hiện tội phạm nên bị tịch thu sung quỹ.

Đối với chiếc áo khoát của bị cáo Hg, bị cáo đã khai sau khi phạm tội các chiếc điện thoại được giấu vào tay áo để tránh bị phát hiện, đây cũng là phg tiện phạm tội có giá trị không đáng kể nên tịch thu hủy bỏ.

Số tiền cơ quan điều tra thu giữ của các bị cáo D là 900.000đồng và bị cáo P là 2.500.000đồng sẽ trả lại cho các bị cáo sau khi thực hiện xong nghĩa vụ án phí.

06 chiếc điện thoại chưa tìm được chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nh không có bị hại đến nhận do đó tịch thu sung quỹ.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, tất cả bị hại không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Phạm Thị Phg T còn phải chấp hành 01 bản án khác đang có hiệu lực pháp luật. Việc tổng hợp hình phạt của hai bản án là quy định của pháp luật.

Bị cáo D và bị cáo Hg đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang kết án, đến nay chưa có căn cứ để xác định bản án số 36/2022/HS-ST ngày 10/11/2022 có hiệu lực nên việc tổng hợp hình phạt của 02 bản án sẽ được thực hiện sau.

Quan điểm của kiểm sát viên tại tòa có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo H khai là thuộc diện hộ cận nghèo nh chưa có tài liệu chứng minh nên bị cáo phải chịu án phí hình sự cùng các bị cáo còn lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P và bị cáo Phạm Thị Phg T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

+ Căn cứ điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Hg 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

+ Căn cứ điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị H 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

+ Căn cứ điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

+ Căn cứ điểm a, điểm b điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022

+ Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Phg T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 24/2020/HT-ST ngày 25/6/2020 của Toà án nhân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam buộc bị cáo Phạm Thị Phg T phải chấp hành chung hai bản án là 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu sung quỹ:

+ 02 điện thoại (01 Iphone x màu trắng và 01 Iphone 11 màu vàng) của bị cáo Hg; 01 điện thoại của bị cáo H (Iphone 11 màu vàng).

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter biển kiểm soát 61F1-497.01; 01 điện thoại (Iphone X max ); 01 điện thoại Samsung của bị cáo D.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H1-152.96; 01 điện thoại (Iphone 5) của bị cáo P.

-Tịch thu 06 chiếc điện thoại để sung quỹ do không tìm được chủ sở hữu gồm:

+ 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y21

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone X

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z

- Tịch thu hủy bỏ: 01 Chiếc áo khoát của bị cáo Đặng Thị Hg:

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thành D số tiền là 900.000đồng và bị cáo Huỳnh Tấn P số tiền 2.500.000đồng (Theo lai thu số 0001818 ngày 18/7/2022) sau khi bị cáo D và bị cáo P thực hiện xong nghĩa vụ án phí.

Tất cả vật chứng vụ án được ghi nhận tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra với chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do tất cả bị hại không có yêu cầu khác .

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đặng Thị Hg, Lê Thị H, Nguyễn Thành D, Huỳnh Tấn P và bị cáo Phạm Thị Phg T mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAT;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS. H,T

- CC. THA H; -Sở Tư pháp; -CQCSĐT Long Hồ; -Phòng hồ sơ CAVL;

- Bị cáo; Bị hại; -UBND -Nhà tạm giữ huyện Long lh;

- Lưu.

Phạm Trí Trường TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG HỒ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH VĨNH LONG

Long Hồ, ngày 16 tháng 01 năm 2023 Số: 01/2023/QĐ-SCBSBA

QUYẾT ĐỊNH

SỬA CHỮA BẢN ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ -TỈNH VĨNH LONG

Căn cứ vào bản án hình sự sơ thẩm số 83/2022/ HS-ST ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ - tỉnh Vĩnh Long.

Xét cần sửa chữa bản án do có sự nhầm lẫn trong khâu đánh máy đối với bản án số 83/2022/ HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Long Hồ đối với bị cáo Đặng Thị Hg cùng các bị cáo khác.

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa chữa bản án số 83/2022/ HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ như sau:

1/ Tại dòng thứ 18 từ dưới lên trang 1 bản án ghi: Bị cáo Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1981. Tại tỉnh Khánh Hòa

Nay sửa chữa như sau: Bị cáo Lê Thị H, sinh ngày 15/6/1981. Tại Quảng Ngãi.

2/ Tại dòng thứ 16 từ trên xuống trang 2 bản án ghi: Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1992

Nay sửa chữa như sau: Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1990

3/ Tại dòng thứ 05 từ trên xuống trang 3 bản án ghi: Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4/ Nay sửa chữa như sau: Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

5/ Tại dòng thứ 18 từ dưới lên trang 16 bản án ghi: Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Nay sửa chữa như sau: Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Cỡ chữ