- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn H - Lê Thị Hồng H"
- Tòa quyết gì? Khoản Điều 5 ; khoản Điều 56 và các điều 5 , 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-5-2022 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Phương; Bà Đinh Thị Kim Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Gò Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Trinh, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số /2022/TL T-HNGĐ, ngày tháng 02 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn H (tên gọi khác: H), sinh năm 980; (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hồng H, sinh năm 982; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn trình bày: Qua mai mối, anh và chị H tiến đến hôn nhân năm 200 , có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã G năm 2005. Quá trình chung sống hạnh phúc đến cuối năm 202 thì phát sinh mâu thuẫn, do chị H ngoại tình, vấn đề về tiền bạc và vợ chồng đã sống ly thân một năm nay. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, anh yêu cầu được ly hôn với chị H.
Về con chung: Có ba người con chung tên Trần Thị Quyền T sinh ngày 09/ /2002, Trần Khánh K sinh ngày 2 / 0/2004 và Trần Khánh T sinh ngày 22/10/2018. Khi ly hôn anh H yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu K và giao cháu T cho chị H tiếp tục nuôi, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con và anh không cấp dưỡng. Cháu T đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận.
Chị Lê Thị Hồng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của anh H, nhưng không có ý kiến gì và vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nên không lấy lời khai và hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Anh Trần Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Chị Lê Thị Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 56, 58, 8 , 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị H; Về con chung anh H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trần Khánh K, chị H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trần Khánh T, không ai cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận nên không xem xét; Về án phí sơ thẩm thì anh H chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[ ] Về tố tụng: Anh Trần Văn H khởi kiện xin ly hôn chị Lê Thị Hồng H có nơi cư trú Ấp N, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang nên Tòa án nhân dân thị xã Gò Công thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị Lê Thị Hồng H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do, anh H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 22 và khoản Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Lê Thị Hồng H và anh Trần Văn H tiến đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Anh H và chị H sống chung từ năm 2005. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, do chị H ngoại tình, vấn đề về tiền bạc và đã sống ly thân một năm nay. Trong quá trình giải quyết, chị H đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của anh H, nhưng chị H không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải. Điều này chứng tỏ tình cảm của chị H đối với anh H đã không còn, mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng và vợ chồng đã không còn sống chung hơn một năm. Xét thấy hôn nhân của anh H và chị H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc anh H xin ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2. ] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị H và anh H có ba người con chung tên Trần Thị Quyền T sinh ngày 09/7/2002, Trần Khánh K sinh ngày 27/10/2004 và Trần Khánh T sinh ngày 22/10/2018. Cháu T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Xét thấy, hiện nay cháu K đang sống cùng anh H, cháu T còn nhỏ do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 06/4/2022, thì cháu K có nguyện vọng được sống với cha. Chị H vắng mặt không thể hiện ý kiến về việc nuôi con. Vì vậy, để hai con chung phát triển ổn định, toàn diện thì việc để cháu K cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục và cháu T cho chị H tiếp tục tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và nguyện vọng của con chung, nên yêu cầu của anh H về việc nuôi dưỡng con chung được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Anh H và chị H đều trực tiếp nuôi con, nhưng anh H không yêu cầu chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và chị H không có ý kiến về việc cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Tự thỏa thuận, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị H và anh H vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 4 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/20 6/UBTVQH 4 ngày 30/ 2/20 6 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, anh Trần Văn H phải chịu án phí theo quy định.
Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản Điều 5 ; khoản Điều 56 và các điều 5 , 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 4 ; điểm b khoản 2 Điều 22 và khoản Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 4 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn H được ly hôn với chị Lê Thị Hồng H.
- Về quan hệ con chung: Anh Trần Văn H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Khánh K sinh ngày 27/10/2004. Chị Lê Thị Hồng H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Khánh T sinh ngày 22/10/2018. Chị H và anh H chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0006634 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Như vậy, anh H đã nộp xong án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công; - UBND xã B, thị xã Gò Công; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Công Triều |