vanban.org

Bản án 83/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Nhƣ H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Nhƣ H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 23/5/2017. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Như H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Nhƣ H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2017/HSST.
Ngày: 16/8/2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Lê Thị Ánh Sáng

+ Bà Lê Thị Ngọc Ánh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Ông Lƣơng Duy Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Như H, sinh năm 1989 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: ấp PH, xã LP, Huyện LT, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; con ông Dương T, sinh năm 1956; con bà Đoàn Thị H, sinh năm: 1965; Vợ Bùi Thị Tú T, sinh năm 1983 (không đăng ký kết hôn); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 4 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 25/01/2009; Ngày 03/7/2017, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 BLHS, đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành đình chỉ vụ án theo Quyết định số 05 ngày 01/8/2017 do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/5/2017 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành “Bị cáo có mặt”.

- Người bị hại: Ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1956 “Vắng mặt”.

HKTT: Ấp XG, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

-Người làm chứng:

+ Chị Lê Thị Thùy T, sinh năm: 1995 “Vắng mặt”.

HKTT: Ấp XG, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

+ Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm: 1978 “Vắng mặt”.

HKTT: Ấp XG, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Đoàn Như H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lúc 21 giờ ngày 22/5/2017, Đoàn Như H đi bộ đến phòng trọ của ông Lê Văn Đ ở ấp XG, xã LA chơi. Đến nơi, thấy ông Đ đang ngủ, H lên tiếng gọi nhưng do ngủ say nên ông Đ không biết. Thấy vậy, H đi vào trong đi vệ sinh thì H nhìn thấy quần của ông Đ treo trước cửa nhà vệ sinh nên lục tìm thấy có tiền bên trong nên lấy số tiền 2.796.000 đồng rồi tiếp tục đi ra gần chỗ ông Đ nằm ngủ lấy 01 điện thoại hiệu Iphone 4 bỏ vào túi quần bên phải. Sau đó, H đi đến quán của chị Nguyễn Thị Kim P ngồi ăn bánh cuốn thì bị lực lượng công an huyện Long Thành mời làm việc về hành vi Cố ý gây thương tích. Sau khi ngủ dậy phát hiện bị mất tài sản, ông Đ đi ra ngoài dò hỏi thì được người dân cùng dãy phòng trọ cung cấp thông tin có H đến phòng và H đã bị Công an huyện Long Thành mời về làm việc nên đã đến Công an huyện trình báo về sự việc nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 50/KL.ĐGTSTT ngày 19/6/2017 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Long Thành kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 có trị giá 1.000.000 đồng (bút lục số 07a).

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại hiệu Iphone 4 và số tiền 2.796.000, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành thu hồi trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 83/VKS-HS ngày 12/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Đoàn Như H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Đoàn Như H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng điểm g, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo H từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

XÉT THẤY:

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Đoàn Như H đã khai nhận hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Nhưng bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại mà nhằm mục đích giấu tài sản của người bị hại để đùa giỡn. Xét lời khai nại của bị cáo không được người bị hại thừa nhận, không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng và tang vật chứng đã bị thu giữ, lời khai của bị cáo chỉ nhằm mục đích trốn tránh trách nhiệm hình sự. Vì vậy, buộc bị cáo phải biết rằng hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại khi chưa được sự đồng ý của người bị hại là vi phạm pháp luật hình sự, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo H đã thừa nhận hành vi lén lút lấy tiền và điện thoại của ông Đ, tổng giá trị 3.796.000 đồng là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đoàn Như H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đều nhận thức rõ việc thực hiện hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì xem thường pháp luật, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để làm nguồn sống riêng. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 25/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 4 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/01/2009; Ngày 03/7/2017, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự, đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành đình chỉ vụ án theo Quyết định số 05 ngày 01/8/2017 do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố. Lẽ ra bị cáo phải biết ý thức tự sửa chữa hành vi để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi có điều kiện là bị cáo thực hiện ngay hành vi phạm tội. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và giữ gìn kỷ cương, trật tự xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với đại diện Viện kiểm sát áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là chưa phù hợp nên không chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản là 01 điện thoại hiệu Iphone 4 và số tiền 2.796.000 đồng bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại ông Lê Văn Đ, ông Đ không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Nhƣ H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Xử phạt: Bị cáo Đoàn Nhƣ H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 23/5/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét

3. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Ánh Sáng - Lê Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Thanh Hà

Cỡ chữ