- Tranh chấp gì? "Đặng Quốc C và đồng phạm phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm bkhoản 1 Điều 355, Điều 357Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 255 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 54 Bộ luật hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án:82/2022/HS-PT Ngày 14 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Tạ Văn Thành
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Vũ
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Hồng Quân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:54/2022/TLPT-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc C và 03 bị cáo khác đối với Bản án hình sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị kháng cáo:
1. Họ tên: Đặng Quốc C - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 25 tháng 03 năm 1995 tại huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu QT, xã VK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12
Bố đẻ: Đặng Văn P, sinh năm 1958, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1967, hiện đều ở xã VK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Vợ: Lư Thanh N, sinh năm 1995, hiện ở xã VK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáobị bắt tạm giam ngày 02/09/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (Có mặt)
2. Họ tên: Hoàng Minh N - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 13 tháng 08 năm 1993 tại huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu AN, xã VK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12
Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1955, hiện ở xã VK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Vợ,con: Chưa có.
Nhân thân: Tại Quyết định số 67/QĐ-XPVPHC ngày 15/05/2019 Hoàng Minh N bị Công an huyện TS, tỉnh Phú Thọ xử phạt 2.500.000đ về hành vi cố ý gây thương tích (nộp phạt ngày 30/05/2019).
Tiền án: Tại Bản án số 39/2020/HSST ngày 30/09/2020, Hoàng Minh N bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2021, thi hành xong án phí ngày 30/9/2020).
Tiền sự: Không
Bị cáobị bắt tạm giam ngày 02/09/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Phú Thọ (Có mặt)
3. Họ tên: Hoàng Thị H - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
Sinh ngày 03 tháng 06 năm 1993 tại huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu C, xã HV, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12
Bố đẻ: Hoàng Văn H, sinh năm 1966, Mẹ đẻ: Hoàng Thị Thỏa, sinh năm 1968, hiện đều ở xã Hùng V, huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Chồng: Hoàng Văn H, sinh năm 1981, hiện ở xã HV, huyện CK, tỉnh Phú Thọ(Đã ly hôn).
Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáokhông bị bắt, tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 09/12/2021, hiện đang tại ngoại tại xã Hùng Việt, huyện CK, tỉnh Phú Thọ (Có mặt)
4. Họ tên: Chảo Thị L - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
Sinh ngày 20 tháng 10 năm 2004 tại huyện U, tỉnh C.
(Tính đến ngày phạm tội bị cáo được 16 tuổi 10 tháng 10 ngày)
Nơi cư trú: P, xã T, huyện U, tỉnh L.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12
Bố đẻ: Chảo Văn Đ, sinh năm 1982, Mẹ đẻ: Lò Thị T, sinh năm 1983, hiện đều ở xã PT, huyện Than U, tỉnh LC.
Chồng, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáokhông bị bắt, tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/02/2022, hiện đang tại ngoại tại xã PT, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt)
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáoChảo Thị L: Bà Lò Thị TH, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản NP, xã PT, huyện TU, tỉnh LC. (Là mẹ đẻ của bị cáo L, vắng mặt ).
- Người bào chữa cho bị cáo Chảo Thị L: Bà Bùi Thu Hà - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt ).
Người tham gia tố tụng khác Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 30/08/2021, Công an huyện CK phối hợp với Công an xã Hùng Việt kiểm tra, phát hiện tại Phòng Vip 5 tầng âm quán Karaoke DIAMOND thuộc khu Xóm Chùa, xã Hùng Việt, huyện CK đang có 30 người đang tụ tập hát karaoke, vi phạm quy định về phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, và có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, bao bồm: Hoàng Trọng Tài, sinh năm 1988, ở khu Ô Đà, xã Văn Khúc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Minh N, sinh năm 1993 ở khu An Ninh, xã Văn Khúc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Đặng Quốc C, sinh năm 1995, ở khu Quang Trung, xã Văn Khúc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Đặng Thị Thảo, sinh năm 1994, ở xóm Nghè, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Chảo Thị L, sinh ngày 20/10/ 2004 và Chảo Thị Mai, sinh ngày 12/5/2006 đều ở bản Nà Phái, xã PT, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nguyễn Công Thuận, sinh năm 1991 và Đỗ Mạnh Tiến, sinh năm 1998 đều ở khu Trung Tiến, xã Yên Tập, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Đào Thanh Hải, sinh năm 1994, Nguyễn Trung Đức, sinh năm 1994 đều ở khu Bắc Tiến 1, xã Phú Lạc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Xuân Mạnh, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn Điều, sinh năm 1993 đều ở khu Trung Thuận 2, xã Yên Tập, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Lô Thị Hồng, sinh năm 2000, Lương Thị Dịu, sinh ngày 27/5/2004, Vy Thị Ánh Vân, sinh năm 2002 và Mạc Thị Lê Na, sinh ngày 09/3/2004 đều ở xã Hữu Khuông, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Lò Thị Cương, sinh năm 2001 ở bản Én Nọi, xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 01/8/2004 ở bản Sân Bay, xã PT, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Lư Thanh Nụ, sinh năm 1995 ở xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Bùi Thị Huyền My, sinh năm 2001 ở xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Phạm Thị Châm, sinh năm 1998 ở Đa Phúc, huyện Dương Kính, thành phố Hải Phòng; Lữ Thị Bún, sinh ngày 01/02/2004 và Kha Thị Dậu, sinh ngày 14/4/2004 đều ở xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Đỗ Nam Phong, sinh năm 1984 ở xã Hưng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Cao Mạnh Hùng, sinh năm 1982 ở xã Văn Khúc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Bùi Đức Hảo, sinh năm 2000 ở thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Đức Hùng, sinh năm 1996 ở xã Hùng Việt, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Thị Huyền Trang, sinh năm 1989 ở phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1998 ở khu Bắc Tiến 2, xã Phú Lạc, huyện CK, tỉnh Phú Thọ và Phạm Văn Sơn, sinh năm 1994 ở khu Phú Yên, xã Tạ Xá, huyện CK, tỉnh Phú Thọ. Tất cả các đối tượng trên qua kiểm tra đều có kết quả âm tính covid-19, 01 đối tượng Phạm Văn Sơn không sử dụng ma túy còn 29/30 đối tượng còn lại có kết quả dương tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ:
+ Thu giữ trên bàn số 03 của phòng hát: 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đường kính 32cm trên đĩa có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Trên đĩa có 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ, hai đầu ống hút được bọc bằng vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 thẻ ngân hàng MB bank; 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh bên trong có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 cốc thủy tinh màu trắng, bên trong có bám dính chất rắn dạng bột màu xanh, trong cốc có 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm bên trong có bám dính chất rắn màu xanh.
+ Thu giữ tại vị trí lỗ nhỏ trên loa số 2 trong phòng hát ở bên phải hướng từ cửa phòng vào 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa 02 gói nilon nhỏ đều màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng.
+ Chảo Thị L tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an 01 cục nhỏ chất rắn dạng viên cục màu xanh.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng hơn 20 giờ ngày 30/8/2021, sau khi hát tại Phòng VIP 5 được khoảng 10 phút, thì Hoàng Trọng Tài có nói với Đặng Quốc C và Đỗ Nam Phong về việc Cao Mạnh Hùng sắp đi trả án lấy ít đồ (tức ma túy) về chơi. Sau đó, Tài, C, Phong, N đi ra khỏi phòng hát và đứng ở quầy lễ tân nói chuyện về việc mua ma túy về chơi. Do không có ai có tiền nên Tài tự ứng trước 20.000.0000đ để đi mua ma túy là “kẹo và ke”. Sau đó Tài sử dụng số điện thoại 0989063568 và số điện thoại 0987337842 lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen của Tài để gọi tới số điện thoại 0968602993 của Hoàng Thị H, sinh năm 1993, trú quán: khu Phú Cát, xã Hùng Việt, huyện CK để hỏi mua 20.000.000đ ma túy là “ kẹo và ke” ( kẹo là ma túy loại MDMA; ke là ma túy loại Ketamine). Qua điện thoại, H và Tài thống nhất thỏa thuận H bán cho Tài 16 viên ma túy loại kẹo và 03 chỉ ke với giá 20.000.000đ, Tài chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng số 9704229220931369 ngân hàng MB mang tên Hoàng Thị H. H hẹn Tài đến quán bán quần áo có tên là “Shop H” của H ở khu Thượng Cát, xã Hùng Việt, huyện CK để giao ma túy. Sau khi Tài chuyển tiền mua ma túy cho H xong, Tài bảo C chở Tài đến nhà anh Nguyễn Tiến Nghĩa, sinh năm 1989 ở khu Thượng Cát, xã Hùng Việt, huyện CK, là bạn của Tài để Tài mượn xe. Do khi hỏi mượn xe, Tài không nói cho anh Nghĩa biết dùng xe để đi mua ma túy nên anh Nghĩa đã đồng ý. Sau đó, Tài điều khiển xe của anh Nghĩa đi gặp H lấy ma túy còn C quay lại quán hát. Khi gặp H, Tài được H đưa cho 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa ma túy, Tài biết đó là ma túy loại kẹo và ke mà Tài đã hỏi mua của H trước đó nên không kiểm tra mà cầm lấy bao thuốc đúc vào túi quần đang mặc rồi quay chở lại quán hát.
Tại phòng hát, Tài đưa cho C 03 viên ma túy loại kẹo, đưa cho Tiến, Hải, Mạnh, Hồng, Bún, Nụ, My, Châm mỗi người một viên ma túy loại kẹo để sử dụng, bản thân Tài cũng sử dụng 01 viên ma túy loại kẹo. Đối với số ma túy loại kẹo Tài đưa, C sử dụng nửa viên ma túy loại kẹo, nửa viên C đưa cho Điều sử dụng, còn lại 02 viên ma túy loại kẹo, C bảo với Thảo cầm lấy và chia cho mọi người sử dụng. Thảo liền cầm 02 viên ma túy loại kẹo rồi chia nhỏ 02 viên ma túy này thành 06 phần và chia cho Na, Mai, L, Cương, Nguyễn Thị Trang và Hồng nhưng do Hồng không lấy nên Thảo đã sử dụng 01 phần đó, L sau khi được Thảo cho ma túy loại kẹo thì L không sử dụng ngay mà cất vào trong túi xách giả da màu đen, có khuy bấm màu vàng của L. Số ma túy loại kẹo còn lại Tài để trên bàn, ai sử dụng thì sử dụng.
Sau khi chia số ma túy loại kẹo cho mọi người sử dụng xong, Tài đưa cho N gói ma túy loại ke có đặc điểm 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có 03 gói nilon nhỏ đều có đặc điểm màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong cả 03 gói đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, và bảo N đi lấy đĩa để vào “xào ke” ( tức là để ma túy loại ke vào đĩa để nghiền nhỏ và chia từng phần nhỏ để sử dụng). N liền đi ra ngoài cửa phòng lấy 01 đĩa sứ màu trắng có sẵn ở trên ghế ở ngoài cửa phòng VIP5 vào để trên bàn và đưa gói ma túy ke cho C để C xào ke. C cầm gói ma túy ke rồi lấy 01 túi nilon nhỏ ở trong gói đổ ra đĩa sứ, sau đó dùng thẻ 01 thẻ ngân hàng MB Bank để nghiền nhỏ ma túy ke ra đĩa cho mọi người sử dụng. Sau đó N cầm gói ma túy ke còn lại đang để trên bàn cất ở vị trí lỗ nhỏ trên loa số 2 trong phòng hát để tránh bị ướt và bị mất, mục đích sau khi dùng hết số ke đã xào thì tiếp tục mang ra để mọi người cùng sử dụng hết. Sau đó N quay lại bàn cầm đĩa ke đưa cho Thuận sử dụng, bản thân N cũng sử dụng. Sau đó, các đối tượng khác trong Phòng hát (trừ Sơn) cũng đều tham gia sử dụng ma túy loại kẹo và ke.
Các đối tượng trên hát và sử dụng ma túy tại Phòng VIP 5 của quán đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện CK kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như đã trình bày ở trên. Công an huyện CK đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 31/8/2021, cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định chất ma túy đối với các mẫu vật thu giữ ở trên theo quy định. Tại Kết luận giám định số 1038/KLGĐ ngày 02/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:
“- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 02 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, được đựng trong 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, niêm phong trong bì ghi “Vật chứng thu giữ của Hoàng Trọng Tài gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 1,680 gam, loại Ketamine.
- Chất bột màu xanh bám dính trong 01 cốc thủy tinh màu trắng và bám dính trong 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, niêm phong trong hộp giấy ghi Vật chứng thu giữ của Hoàng Trọng Tài gửi đến giám định đều là ma túy, loại MDMA.
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng và bám dính trong 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, niêm phong trong hộp giấy catton ghi Vật chứng thu giữ của Hoàng Trọng Tài gửi đến giám định đều là ma túy, loại: Ketamine.
- Chất bột màu trắng bám dính trên 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 VNĐ và bám dính trên 01 thể ngân hàng MB Bank, niêm phong trong hộp giấy catton ghi Vật chứng thu giữ của Hoàng Trọng Tài gửi đến giám định đều là ma túy, loại: Ketamine.
- Chất bột, cục màu xanh chứa trong 01 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, niêm phong trong bì ghi Vật chứng thu giữ của Chảo Thị L gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,175 gam, loại: MDMA.
* Ketamine: số thứ tự 35, Danh mục III, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.
* MDMA: số thứ tự 27, Danh mục I, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.”
Cùng ngày 31/8/2021, cơ quan CSĐT Công an huyện CK đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Hoàng Thị H ở khu Thượng Cát, xã Hùng Việt, huyện CK. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án. Về nguồn gốc số ma túy bán cho Tài ở trên, tại cơ quan điều tra Hoàng Thị H khai nhận mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ ở khu vực bến xe khách Mỹ Đình, Hà Nội vào ngày 20/8/2021 với giá 20.000.000đ. Số tiền bán ma túy cho Tài có được H đã chi tiêu cá nhân hết. Ngoài lần bán ma túy cho Tài ở trên H không bán ma túy cho ai lần nào khác nữa.
Căn cứ lời khai của Hoàng Trọng Tài và Hoàng Thị H về số lượng ma túy mua bán, căn cứ Kết luận giám định số 1038/KLGĐ ngày 02/9/2021 nói trên, ngày 18/3/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện CK đã có công văn đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ xác định tổng khối lượng của 16 viên ma túy loại MDMA và 03 gói ma túy Ketamine mà H đã bán cho Tài. Tại Công văn số 245/PC09 ngày 24/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ trả lời với nội dung như sau: “Không xác định được khối lượng của 03 gói Ketamine và 16 viên ma túy kẹo theo lời khai của đối tượng Hoàng Thị H, sinh năm 1993, HKTT: Khu Phú Cát, xã Hùng Việt, huyện Câm Khê, tỉnh Phú Thọ”
Tại cơ quan điều tra các đối tượng Hoàng Trọng Tài, Hoàng Minh N, Đặng Quốc C, Đặng Thị Thảo, Hoàng Thị H và Chảo Thị L đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của các đối tượng phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội, đồng thời phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, Tài và C khai nhận ở quầy lễ tân các đối tượng Tài, C, N và Phong đã thống nhất số tiền góp để mua ma túy như sau: C nhận sẽ góp 3.500.000đ, C bảo N góp 3.500.000đ, bảo Phong góp 7.000.000đ. Do C, N, Phong đều không có tiền nên C bảo tất cả ba người góp được 14 triệu nhờ Tài cứ ứng trước số tiền này rồi ba người sẽ góp lại vào trả Tài sau. Còn Tài tự bảo sẽ góp 6.000.000đ. Tổng là 20.000.000đ. Tuy nhiên, phía Phong và N trình bày tại quầy lễ tân, khi C bảo góp tiền mua ma túy thì bản thân N và Phong đều không đồng ý góp vì cả hai đều không có tiền, N cũng nói với C và Tài là N không có tiền rồi N, Phong đi vào phòng hát luôn.
Quá trình điều tra xác định: Chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke DIAMOND trên là ông Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1970 ở khu Xóm Chùa, xã Hùng Việt, huyện CK. Ông Hùng đi làm xa nhà thường xuyên nên có giao lại quán cho con trai là anh Nguyễn Tiến Mạnh, sinh năm 1994 ở cùng địa chỉ trên quản lý. Vào tối ngày 30/8/2021, Cao Mạnh Hùng gọi điện cho anh Mạnh để thuê phòng hát. Lúc này anh Mạnh không có mặt ở quán mà đi sinh nhật bạn ở thị trấn CK, huyện CK. Anh Mạnh nói với Hùng quán hiện không mở cửa do dịch Covid-19 và cũng bảo Hùng anh không có ở quán. Nhưng Hùng bảo cứ mở quán để Hùng và bạn tự vào. Bản thân anh Mạnh cũng không bảo ai đến quán lấy đồ và phục vụ cho khách, nhóm của Hùng tự mở cửa quán vào phòng hát.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
1. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh N 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
2. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc C 07 ( Bảy ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
3. Áp dụng khoản 1Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngàybị cáo đi chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Chảo Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Chảo Thị L 12( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/7/2022, bị cáo Hoàng Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 20/7/2022, bị cáo Đặng Quốc C, Hoàng Minh N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 21/7/2022, bị cáo Chảo Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáovẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.Bị cáo Chảo Thị L đề nghị được cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Kiều Anh. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo. Cụ thể:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 328; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh N từ05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
2. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
3. Áp dụng khoản 1Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 18 (Mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65;Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Chảo Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Chảo Thị L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, chỉ đề nghị HĐXX xem xétcho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Căn cứ buộc tội đối với bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ hơn 21 giờ đến 22 giờ 30 phút ngày 30/8/2021, tại phòng hát VIP 5 tầng âm quán Karaoke DIAMOND thuộc khu Xóm Chùa, xã Hùng Việt, huyện CK, Hoàng Trọng Tài cùng Đặng Quốc C, Hoàng Minh N và Đặng Thị Thảo đã có hành vi tổ chức cho các đối tượng Chảo Thị L, Chảo Thị Mai, Nguyễn Công Thuận, Đỗ Mạnh Tiến, Đào Thanh Hải, Nguyễn Trung Đức, Hoàng Xuân Mạnh, Nguyễn Văn Điều, Lô Thị Hồng, Lương Thị Dịu, Mạc Thị Lê Na, Lò Thị Cương, Nguyễn Thị Trang, Lư Thanh Nụ, Bùi Thị Huyền My, Phạm Thị Châm, Lữ Thị Bún, Kha Thị Dậu, Đỗ Nam Phong, Vy Thị Ánh Vân, Cao Mạnh Hùng, Bùi Đức Hảo, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Văn Chínhthực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại MDMA và Ketamine.
Khoảng gần 21 giờ ngày 30/8/2021, tại quán “Shop H” của H ở khu Thượng Cát, xã Hùng Việt, huyện CK, Hoàng Thị H đã có hành vi bán trái phép 16 viên kẹo và 03 chỉ ke (không xác định được khối lượng ma túy cụ thể) cho Hoàng Trọng Tài với số tiền bán ma túy có được là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Khoảng hơn 21 giờ đến 22 giờ 30 phút ngày 30/8/2021, tại phòng hát VIP 5 tầng âm quán Karaoke DIAMOND thuộc khu Xóm Chùa, xã Hùng Việt, huyện CK, Chảo Thị L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,175 gam ma túy loại MDMA mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai củabị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác,phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ ánvà các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo Đặng Quốc C, Hoàng Minh Nphạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255Bộ luật Hình sự.Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chảo Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Hoàng Minh N, Đặng Quốc C với mức hình phạtlần lượt là 07 năm 06 tháng tù và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Hoàng Thị H với mức hình phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Chảo Thị L với mức hình phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị H cung cấp 01 Giấy xác nhận của UB MTTQ xã Hùng Việt về việc ủng hộ xây dựng quỹ khuyến học; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bị cáo có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp đường lối xét xử hình sự.
Bị cáo Đặng Quốc C,bị cáo Hoàng Minh N cung cấp công văn xác định bị cáo đã giúp đỡ người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với các bị cáo được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Vì vậy các bị cáo có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS. Cả hai bị cáo đều thực hiện hành vi giúp sức cho bị cáo Tài trong vụ án.Vì vậy cho các bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp đường lối xét xử hình sự.
Bị cáo Chảo Thị L cung cấp đơn xin xác nhận có xác nhận của chính quyền địa phương trong thời gian ở tại địa phương luận chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của nhà nước; ông nội bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.Bị cáo L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy, cần cho bị cáo L hưởng mức án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đã đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Minh N, Đặng Quốc C, Hoàng Thị H, Chảo Thị L.
Vì vậy cần giữ nguyên bản án số 57/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáođược chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm bkhoản 1 Điều 355, Điều 357Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Minh N, Đặng Quốc C, Hoàng Thị H, Chảo Thị L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với các bị cáo Hoàng Minh N, Đặng Quốc C, Hoàng Thị H, Chảo Thị L.
[2]Điều luật áp dụng và hình phạt:
1. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh N 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
2. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày02/09/2021.
3. Áp dụng khoản 1Điều 251; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65;Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Chảo Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Chảo Thị L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Chảo Thị L cho UBND xã PT, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đìnhbị cáo Chảo Thị L có trách nhiệm phối hợp với UBND xã PT, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gianthửthách
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3]Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáoHoàng Minh N, Đặng Quốc C, Chảo Thị L, Hoàng Thị Hkhông phải chịuán phí hình sự phúc thẩm.
[4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND H. CK; - VKSND H. CK; - Công an H. CK; - Chi cục THADS H. CK;- TB - - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo (qua trại giam); - Lưu HS; Lưu VP. CÁC THẨM PHÁN Hồ Văn Việt Vũ Anh Tuấn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Thành THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Toàn |