vanban.org

Bản án 82/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Phú T và bị cáo Phạm Phúc S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HS-ST
Ngày: 26-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Phương Linh

2. Ông Bùi Văn Tần

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phúc Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Phan Phú T, sinh ngày 08-4-1993 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi thường trú: Thôn C, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; căn cước công dân số 051093002905 cấp ngày 09-3-2023; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan N và bà Võ Thị Thanh H; vợ là Phạm Thị Như T1 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 19-7-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 02-3-2023);

Nhân thân:

- Ngày 15-8-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 14-4-2018).

- Ngày 04-9-2025 bị Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ ngày 01-4-2025 đến nay, có mặt.

2. Phạm Phúc S, sinh ngày 07-3-1997 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi thường trú: Thôn T, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Công nhân; căn cước công dân số 051097015826 cấp ngày 16-10-2023; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm T2 và bà Phạm Thị T3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 04-7-2019 bị Tòa án quân sự quân khu 5 xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-4-2020).

Bị bắt tạm giam từ ngày 14-5-2025 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Tấn T4, sinh năm 1974, địa chỉ thường trú: Thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Ông Phan N, sinh năm 1957 và bà Võ Thị Thanh H, sinh năm 1956, cùng địa chỉ thường trú: Thôn C, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Bà Trần Thị L, sinh năm 1974, địa chỉ thường trú: Thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1971, địa chỉ thường trú: Thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1994, địa chỉ thường trú: Thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06-01-2025, Phan Phú T điện thoại rủ Phạm Phúc S đến nhà của Phan Phú T ở thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi chơi thì S đồng ý. Sinh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-698.32 đến nhà Phan Phú T, S vừa đến thì Phan Phú T hỏi mượn xe mô tô của S để đi công việc và điện thoại di động của S để đăng nhập các tài khoản mạng xã hội như Facebook, M, Z để liên lạc với bạn gái thì S đưa điện thoại và xe mô tô 76C1-698.32 cho Phan Phú T mượn. Phan Phú T lấy xe mô tô của S đi công việc đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Phan Phú T về lại nhà và vẫn sử dụng điện thoại đã mượn của S. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Phan Phú T muốn sử dụng ma tuý đá nên sử dụng điện thoại của S đăng nhập tài khoản Messenger tên “T Phan’p” của Phan Phú T nhắn tin vào tài khoản Messenger tên “Tấn Tài” của Nguyễn Tấn T4 hỏi mua của Nguyễn Tấn T4 500.000 đồng ma tuý đá và xin cái “nồi” (nỏ thủy tinh) từ Nguyễn Tấn T4 để sử dụng ma túy thì Nguyễn Tấn T4 đồng ý. Phan Phú T nói với Nguyễn Tấn T4 là Phạm Phúc S sẽ đến gặp Nguyễn Tấn T4 để lấy ma tuý đá và cái nỏ thủy tinh thì Tấn T4 đồng ý. Sau đó, Phan Phú T nói với S: “ra gần chỗ thằng T nó đưa cái nồi cho” (Phan Phú T không nói cho S biết việc Phan Phú T mua ma tuý đá của Nguyễn Tấn T4), nghe vậy S hiểu là Phan Phú T nói S ra nhà Nguyễn Tấn T4 lấy cái nồi (nỏ thuỷ tinh) về để sử dụng ma túy nên S đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-698.32 đi đến nhà của Nguyễn Tấn T4 (Sinh biết nhà Nguyễn Tấn T4 vì có quan hệ bà con với Nguyễn Tấn T4). Khi S đi đến cổng chào thôn N, xã B thì thấy Nguyễn Tấn T4 đứng ở phía trước quán T6 cổng chào thôn N, xã B, S điều khiển xe lại nơi Nguyễn Tấn T4 đang đứng. Nguyễn Tấn T4 thấy S đến thì chỉ cho S vị trí gói thuốc lá Jet để trên thùng giấy trước quán tạp hóa. Sinh nhìn theo hướng Nguyễn Tấn T4 chỉ thì thấy trên thùng giấy trước quán tạp hoá có 01 (một) gói thuốc lá Jet và biết bên trong gói thuốc lá Jet có cái nỏ thuỷ tinh mà Phan Phú T nói S đến gặp Nguyễn Tấn T4 lấy (Sinh không biết bên trong còn có một tép ma túy). Sinh đến lấy gói thuốc lá Jet này quay lại nhà Phan Phú T. Đến nơi, S vào nhà thấy Phan Phú T đang ngồi trong phòng khách, lúc này S mở gói thuốc lá Jet ra xem thì thấy bên trong gói thuốc lá Jet có 01 cái nồi (nỏ thuỷ tinh) và 01 tép ma tuý đá. Sinh thấy có ma tuý và nỏ thuỷ tinh thì hiểu là Phan Phú T mua ma tuý đá để sử dụng. S cầm gói thuốc lá có chứa ma tuý và nỏ thủy tinh đi đến bàn gương trong phòng khách và ngồi gần Phan Phú T. Sinh lấy chai nước, ống hút có sẵn trên bàn gương và nỏ thuỷ tinh trong gói thuốc ra làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá, tiếp đó S lấy tép ma tuý đá trong gói thuốc lá ra rồi dùng đoạn ống hút nhựa xúc ma tuý đổ vào nỏ thuỷ tinh rồi S dùng bật lửa nấu ma tuý đá. Làm xong, S đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cho Phan Phú T sử dụng trước, Phan Phú T sử dụng ma tuý đá xong đưa bộ dụng cụ cho S sử dụng. Sau đó, Phan Phú T và S vào phòng ngủ của Phan Phú T để tiếp tục sử dụng. Tại đây, S và Phan Phú T thay nhau sử dụng ma tuý đá. Khi S và Phan Phú T đang sử dụng ma tuý đá thì bị Công an xã B đến kiểm tra, phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá mà S và Phan Phú T đang sử dụng tại góc tường trong phòng ngủ, quá trình bắt quả tang Phan Phú T ngã va vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá làm vỡ nỏ thuỷ tinh. Công an xã B tiến hành lập biên bản vụ việc, tạm giữ, niêm phong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cùng một số đồ vật, tài liệu khác có liên quan.

Ngày 06-01-2025, sau khi lập biên bản vụ việc, Công an xã B đã tiến hành test ma túy đối với Phan Phú T và Phạm Phúc S. Kết quả, Phan Phú T và Phạm Phúc S đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 43/KL-KTHS ngày 06-02-2025, Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

- Ống thủy tinh đã bị bể bên trong túi niêm phong mã số NS4 2196054 gửi giám định có bám dính chất ma túy; loại: Methamphetamine. Do mẫu ở dạng vi vết nên không cân khối lượng.

- Bên trong túi ni lông không màu và 02 đoạn ống hút nhựa màu đen ở trong túi niêm phong mã số NS4 2196056 gửi giám định có bám dính chất ma túy; loại: Methamphetamine. Do mẫu ở dạng vi vết nên không cân khối lượng.

- Trên 02 đoạn ống hút nhựa màu đen bên trong túi niêm phong mã số NS2 2006502 gửi giám định có bám dính chất ma túy; loại: Methamphetamine. Do mẫu ở dạng vi vết nên không cân khối lượng.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ

Tại Kết luận giám định số 42/KL-KTHS Ngày 06-02-2025, Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

- Mẫu nước tiểu bên trong chai nhựa đề tên Phạm Phúc S, thường trú: Xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại: Methamphetamine.

- Mẫu nước tiểu bên trong chai nhựa đề tên Nguyễn Tấn T4, thường trú: Xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV2 ngày 22-10-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi truy tố Phan Phú T và Phạm Phúc S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Phú T và bị cáo Phạm Phúc S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về điều luật áp dụng và hình phạt:

+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Phú T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi, buộc bị cáo Phan Phú T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Phúc S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Đối với 01 (một) ống thuỷ tinh có đặc điểm hình chữ L đã bị vỡ một phần gồm 02 (hai) đầu có kích thước lần lượt là 1,5cm và 0,5cm; 01 (một) nắp chai nhựa màu trắng, có gắn 02 (hai) ống hút nhựa màu đen, có kích thước lần lượt 18,5cm và 11cm, 02 (hai) ống hút trên được xuyên qua 02 (hai) lỗ của nắp chai; 01 (một) chai nhựa trong suốt, có kích thước (23x6,5)cm, trên thân chai có dòng chữ: NSX: 071024 Q20; HSD: 070425 02Q; bên trong có chứa chất lỏng; 02 (hai) ống hút nhựa màu đen, 01 (một) ống hút có kích thước (6,7x0,4)cm; ống hút còn lại có kích thước (3x0,4)cm, 01 (một) đầu được cắt gọn gắn vào túi ni lông hình chữ nhật có kích thước (1,8x2)cm, bên trong có bám dính chất màu trắng; 01 (một) máy lửa màu xanh, không có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2,2)cm có nhãn hiệu HANGPHONG; 01 (một) máy lửa màu trắng xanh, có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2)cm có nhãn hiệu HOA VIỆT. Đây là dụng cụ các bị cáo dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) tăm bông thấm nước bọt của Phan Phú T và tăm bông thấm nước bọt của Phạm Phúc S. Đây là dụng cụ cơ quan điều tra lấy mẫu để test chất ma túy trong cơ thể Phan Phú T và Phạm Phúc S khi bắt quả tang và đã thực hiện test chất ma túy xong nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu Oppo, ADM-1188, có số IMEI 1: 869383036011617, số IMEI 2: 869383036011609 là của Phạm Phúc S, S cho T mượn sử dụng, việc T sử dụng điện thoại liên lạc với người khác để mua ma túy S không biết nên đề nghị trả lại cho Phạm Phúc S.

+ Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Vison, màu đỏ nâu, biển kiểm soát 76C1-698.32 là xe của bà Phạm Thị T3 – mẹ của Phạm Phúc S, ngày 06-01-2025 S tự ý lấy xe đi rồi sử dụng xe làm phương tiện đi lấy nỏ thủy tinh thì bà T3 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T3 và bà T3 không có yêu cầu gì nên không đề nghị giải quyết.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động, loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau điện thoại có dòng chữ OPPO là của Nguyễn Tấn T4, điện thoại này liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Tấn T4, ngày 03-10-2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã quyết định tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 6139/QĐ-CSMT ngày 27-9-2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và đề nghị tiếp tục tạm giữ vật chứng này để xác minh, điều tra và xử lý sau nên không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

- Về các nội dung, đối tượng khác liên quan trong vụ án:

+ Đối với bị can Nguyễn Tấn T4 có hành vi bán ma túy và cho nỏ thủy tinh để Phan Phú T và Phạm Phúc S tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27-9-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tấn T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Qua điều tra, hiện chưa xác định được bị can Nguyễn Tấn T4 đang ở đâu nên ngày 03-10-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã có Quyết định tách vụ án hình sự số 6247/QĐ-CSMT. Do đó, hành vi trên của bị can Nguyễn Tấn T4 sẽ được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp tục điều tra xử lý sau.

+ Đối với ngôi nhà Phan Phú T sử dụng làm địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là của ông Phan N và bà Võ Thị Thanh H là cha mẹ ruột của Phan Phú T đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, thời điểm Phan Phú T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì ông N, bà H không sống ở ngôi nhà trên, không biết hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Phú T nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với ông Phan N và bà Võ Thị Thanh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ông Nguyễn Tấn T4 và ông Nguyễn Tấn P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt, trong đó ông T4 đã bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách vụ án để tiếp tục điều tra xử lý sau. Ông P vắng mặt không có lý do, tuy nhiên ông P đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, 2 bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của 2 bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của 2 bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Phan Phú T và Phạm Phúc S là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 06-01-2025 tại thôn C, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, Phan Phú T và Phạm Phúc S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho chính hai bị cáo cùng sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi truy tố Phan Phú T và Phạm Phúc S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, trong đó Phan Phú T là người khởi xướng, rủ rê Phạm Phúc S tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua ma túy, xin nỏ thủy tinh từ Nguyễn Tấn T4, chuẩn bị dụng cụ và sử dụng nơi ở do mình quản lý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Phạm Phúc S là người tiếp nhận lời rủ rê tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy từ Phan Phú T; đi nhận nỏ thủy tinh từ Nguyễn Tấn T4; tạo bộ dụng cụ và đốt ma túy đưa cho Phan Phú T và chính bị cáo sử dụng.

Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, đặc biệt trong tình hình xã hội hiện nay, tội phạm ma túy đang gia tăng, gây mất trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục hai bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Phúc S không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Phan Phú T, ngày 17-9-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 02-3-2023 chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 06-01-2025 chưa được xóa án tích bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội mới, nên hành vi phạm tội lần này của Phan Phú T thuộc trường hợp tái phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa hai bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo. Riêng bị cáo S có ông ngoại Phạm Văn B là Liệt sĩ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) ống thuỷ tinh có đặc điểm hình chữ L đã bị vỡ một phần gồm 02 (hai) đầu có kích thước lần lượt là 1,5cm và 0,5cm; 01 (một) nắp chai nhựa màu trắng, có gắn 02 (hai) ống hút nhựa màu đen, có kích thước lần lượt 18,5cm và 11cm, 02 (hai) ống hút trên được xuyên qua 02 (hai) lỗ của nắp chai; 01 (một) chai nhựa trong suốt, có kích thước (23x6,5)cm, trên thân chai có dòng chữ: NSX: 071024 Q20; HSD: 070425 02Q; bên trong có chứa chất lỏng; 02 (hai) ống hút nhựa màu đen, 01 (một) ống hút có kích thước (6,7x0,4)cm; ống hút còn lại có kích thước (3x0,4)cm, 01 (một) đầu được cắt gọn gắn vào 01 (một) túi ni lông hình chữ nhật có kích thước (1,8x2)cm, bên trong có bám dính chất màu trắng; 01 (một) máy lửa màu xanh, không có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2,2)cm có nhãn hiệu HANGPHONG; 01 (một) máy lửa màu trắng xanh, có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2)cm có nhãn hiệu HOA VIỆT. Đây là dụng cụ các bị cáo dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) tăm bông thấm nước bọt của Phan Phú T và tăm bông thấm nước bọt của Phạm Phúc S. Đây là dụng cụ cơ quan điều tra lấy mẫu để test chất ma túy trong cơ thể Phan Phú T và Phạm Phúc S khi bắt quả tang và đã thực hiện test chất ma túy xong nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu Oppo, ADM-1188, có số IMEI 1: 869383036011617, số IMEI 2: 869383036011609 là của Phạm Phúc S, S cho T mượn sử dụng, việc T sử dụng điện thoại liên lạc với người khác để mua ma túy S không biết nên trả lại cho Phạm Phúc S.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Vison, màu đỏ nâu, biển kiểm soát 76C1-698.32 (đã qua sử dụng) là xe của bà Phạm Thị T3 – mẹ của Phạm Phúc S, ngày 06-01-2025 S tự ý lấy xe đi rồi sử dụng xe làm phương tiện đi lấy nỏ thủy tinh thì bà T3 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T3 và bà T3 không có yêu cầu gì nên không giải quyết.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, loại cảm ứng, màu trắng, mặt sau điện thoại có dòng chữ OPPO là của Nguyễn Tấn T4, điện thoại này liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Tấn T4, ngày 03-10-2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã quyết định tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 6139/QĐ-CSMT ngày 27-9-2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và đề nghị tiếp tục tạm giữ vật chứng này để xác minh, điều tra và xử lý sau nên không giải quyết trong vụ án này.

Đối với các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Tấn T4, lời khai ban đầu T4 không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Phan Phú T chỉ thừa nhận có cho Phan Phú T nỏ thủy tinh, tuy nhiên căn cứ lời khai của hai bị cáo và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, ngày 27/9/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tấn T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, tuy nhiên, sau khi khởi tố thì Nguyễn Tấn T4 không có mặt tại đị phương, hiện chưa xác định được Nguyễn Tấn T4 đang ở đâu nên ngày 03-10-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 6247/QĐ-CSMT. Do đó, hành vi trên của Nguyễn Tấn T4 sẽ được tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với ngôi nhà Phan Phú T sử dụng làm địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là của ông Phan N và bà Võ Thị Thanh H là cha mẹ ruột của Phan Phú T đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, thời điểm Phan Phú T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì ông N, bà H không sống ở ngôi nhà trên, không biết hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Phú T nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với ông Phan N và bà Võ Thị Thanh H.

Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, loại hình phạt, mức hình phạt đối với 2 bị cáo, xử lý vật chứng của vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Hai bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Phan Phú T).

Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Phạm Phúc S). Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Điều 106; Điều 292; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Phú T và bị cáo Phạm Phúc S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Phan Phú T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ngãi, buộc bị cáo Phan Phú T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01-4-2025).

2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Phúc S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 14-5-2025).

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 (một) ống thuỷ tinh đã bị bể; 01 (một) túi nilong không màu; 01 (một) nắp nhựa màu trắng trên nắp có đục 2 lỗ; 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa màu đen cùng toàn bộ vỏ bao gói gửi giám định được đựng bên trong 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 23039936, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh T5, Nguyễn Văn D và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.

- 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa chất lỏng;

- 01 (một) máy lửa màu xanh, không có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2,2) cm có nhãn hiệu HANGPHONG;

- 01 (một) máy lửa màu trắng xanh, có vỏ kim loại bảo vệ, có kích thước (8x2) cm có nhãn hiệu HOA VIỆT.

- 01 (một) tăm bông thấm nước bọt của Phan Phú T được niêm phong trong túi có mã số NS4 2196053, bên ngoài có chữ ký của Phan Phú T, Võ Văn P1.

- Tăm bông thấm nước bọt của Phạm Phúc S được niêm phong trong túi có mã số NS4 2196057, bên ngoài có chữ ký của Võ Văn P1, Phạm Phúc S.

3.2 Trả lại cho Phạm Phúc S: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO ADM-1188, màu đen, số IMEI 1: 869383036011617, IMEI 2: 869383036011609.

Các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25-12-2025 giữa Công an tỉnh Q với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ngãi.

4. Về án phí: Bị cáo Phan Phú T và bị cáo Phạm Phúc S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ