vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 82/2023/HS-ST Tuyên án 10/05/2023
Phúc thẩm Bản án 126/2023/HS-PT Tuyên án 10/08/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS - ST
Ngày 10 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Văn Ngôn, ông Nguyễn Quang Kim.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 63/2023/TLST-HS ngày 07/4/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 12/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 25/4/2023 đối với bị cáo:

Họ tên: Đỗ Thị T, sinh năm 2003; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Đỗ Văn S, sinh năm 1967. Con bà: Thân Thị M, sinh năm 1972. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư. Chồng, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

1. Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

2. Anh Lường Văn T, sinh năm 1989, trú tại Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Lường Văn K, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của ông Lường Văn K là anh Lường Văn T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (đều vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thị T, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.

Tối ngày 11/9/2022, T tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3-594.56 của chị gái là Đỗ Thị T, sinh năm 2001 đang sống cùng nhà với T rồi điều khiển đi đến thôn Vân Cốc, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ăn tối, uống bia cùng bạn. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô một mình trên đường giao thông hướng từ Khu công nghiệp Quang Châu qua hầm chui đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi tổ dân phố Ninh Khánh để về nhà ngủ. Khoảng 10 phút sau, T điều khiển xe mô tô đi qua hầm chui đường cao tốc tới ngã tư đường giao nhau giữa đường nhánh theo hướng đi của T với đường ưu tiên là đường gom dân sinh dành cho các phương tiện giao thông đi theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh thuộc địa phận tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, T không giảm tốc độ, không nhường đường cho các phương tiện đi trên đường ưu tiên, tiếp tục điều khiển xe đi qua ngã tư đường nên để phần đầu xe mô tô do T điều khiển va chạm vào đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1-050.42 do anh Lường Văn T, sinh năm 1989, trú tại Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang điều khiển chở phía sau là anh Hoàng Văn L, sinh năm 1990 ở cùng thôn đi trên đường ưu tiên theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh. Sau va chạm giao thông, hai xe mô tô đổ, anh L bị thương tích nhẹ, anh T, và T bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện Quân y 110, tỉnh Bắc Ninh điều trị thương tích. Đến ngày 12/9/2022 thì anh T tử vong, còn T tiếp tục điều trị tại Bệnh viện đến ngày 04/10/2022 thì ra viện với thương tích: Gãy kín 1/3 giữa xương đòn phải, rách da vùng cung mày phải, chấn động não.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn và khám nghiệm tử thi.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường gom dân sinh thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa phẳng, rộng 11m. Theo chiều đi từ thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh, chiều đường bên phải được chia thành hai làn đường xe chạy, rộng lần lượt là 3,3m và 1,9m bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m và có đường đi vào tổ dân phố Ninh Khánh, đầu đường rộng 16,2m, chiều đường bên trái được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 1,95m và 3,3m bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,2m và có đường đi qua hầm chui dân sinh sang khu công nghiệp Quang Châu, đầu đường rộng 26,0m. Trên đường dân sinh từ tổ dân phố Ninh Khánh đi Khu công nghiệp Quang Châu bên phải đường có cắm biển báo hiệu nguy hiểm W208 (Giao nhau với đường ưu tiên) và có mương nước rộng 4,6m, sâu 1,9m. Trên đường gom dân sinh bên phải đường theo chiều đi từ thành phố Bắc Ninh đi thành phố Bắc Giang có cắm biển báo hiệu nguy hiểm 207a (Giao nhau với đường không ưu tiên), bên trái đường là lề cỏ rộng 2,2m.

Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh lấy chân cột biển báo nguy hiểm W208 trên đường dân sinh bên phải đường làm mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn.Trên hiện trường để lại:

Vết dầu trên mặt đường gom dân sinh (ký hiệu số 1), kích thước (8,75 x 2,0)m, tâm đầu vết dầu cách mép đường bên phải 2,05m, tâm cuối vết dầu nằm dưới vị trí đầu xe mô tô biển số 98B3- 594.56.

Vết cày mặt đường (ký hiệu số 2), kích thước (7,1 x 0,01)m, tâm đầu vết cày cách mép đường bên phải 1,29m và cách tâm đầu dấu vết ký hiệu số 1 là 1m; tâm cuối vết cày nằm trên lề cỏ bên phải đường, tâm cách mép đường bên phải là 2,2m và cách trục bánh sau của xe mô tô biển số 99G1- 050.42 là 1,7m.

Xe mô tô biển số 99G1- 050.42 (ký hiệu số 3) đang đổ nghiêng bên trái dưới mương nước bên phải đường, đầu xe hướng thành phố Bắc Ninh, đuôi xe hướng thành phố Bắc Giang, trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,5m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 2,9m.

Vết cày mặt đường (ký hiệu số 4), kích thước (7,8 x 0,01)m, tâm đầu vết cày cách mép đường bên phải 2,32m, cách tâm đầu vết cày ký hiệu số 2 là 1,1m và cách đầu mép bên trái đầu đường đi sang Khu công nghiệp Quang Châu là 20,2m; tâm cuối vết cày nằm dưới vị trí đầu để chân trước bên trái của xe mô tô biển số 98B3-594.56 và cách mép đường bên phải 0,66m.

Xe mô tô biển số 98B3- 594.56 (ký hiệu số 5) đang đổ nghiêng bên phải trên đường, đầu xe hướng tổ dân phố Ninh Khánh đuôi xe hướng khu công nghiệp Quang Châu, trục bánh trước nằm trên mép đường bên phải, trục bánh sau cách mép đường bên phải 1,15m.

Bãi máu nằm trên mặt đường (ký hiệu số 6), kích thước (0,5 x 0,46)m, tâm cách mép đường bên phải là 1,7m và cách tâm đầu dấu vết ký hiệu số 2 là 3,7m.

Bãi máu nằm trên mặt đường (ký hiệu số 7), kích thước (0,3 x 0,2), tâm bãi máu cách mép đường bên phải 0,4m và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 98B3- 594.56 là 0,90m.

Khoảng cách 13 m tính từ đầu tâm dấu vết ký hiệu số 2 đến chân cột biển báo nguy hiểm W208 “Giao nhau với đường ưu tiên” được cắm trên đường dân sinh bên phải đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ hai xe mô tô nêu trên để phục vụ công tác điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3 - 594.56 (sơn màu đen- bạc, dung tích 110 m3): Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Đầu núm tay lái bên phải để lại vết mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,02 x 0,02)m, tâm cách đất 1,04m. Mặt ngoài bên phải phía dưới ốp nhựa đầu xe để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,08 x 0,01)m, tâm cách đất 0,94m. Mặt nạ đầu xe để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,22 x 0,07)m, tâm cách đất 0,85m. Cánh yếm bên phải bị tì nén, nứt vỡ, mặt ngoài mài sát, bám dính tạp chất màu xanh, kích thước (0,60 x 0,15)m, tâm cách đất 0,65m. Mặt bên phải chắn bùn phía trước để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,13 x 0,06)m, tâm cách đất 0,60m, nứt vỡ nhựa. Giảm sóc trước bên phải để lại vết mài sát kim loại, bám dính tạp chất màu đen, in hình dạng vân lốp, kích thước (1,18 x 0,05)m, tâm cách đất 0,43m. Nan hoa bánh trước bị tì nén, cong vênh, biến dạng, đứt gãy chân, hướng từ phải sang trái, kích thước (0,35 x 0,13)m, tâm cách chân van 0,10m. Để chân sau bên phải bị tì nén, mài sát, mòn cao su, kim loại, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 0,35m. Để chân trước bên phải bị tì nén, cong vênh, mài sát, mòn cao su, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 0,33m. Bảo vệ pô xe bên phải bị tì nén, bẹp lõm, mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,36 x 0,08)m, tâm cách đất 0,26m. Mặt bên phải tay cầm phía sau bị mài sát, mòn cao su, kích thước (0,09 x 0,03), tâm cách đất 0,82m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1 - 050.42 (sơn màu xanh - đen - bạc): Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Ốp nhựa đầu xe bị tì nén, nứt vỡ. Đèn xi nhan phía trước bên trái bị bật rời khỏi xe. Đầu tay lái bên trái bị tì nén, cong vênh, mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,04 x 0,01)m, tâm cách đất 0,95m. Mặt nạ đầu xe để lại vết mài sát, mòn nhựa, kích thước (0,1 x 0,05)m, tâm cách đất 0,87m. Cánh yếm bên trái bị tì nén, nứt vỡ, mặt ngoài mài sát, mòn nhựa, bám dính đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,70 x 0,12)m, tâm cách đất 0,54m. Chắn bùn bánh trước bị tì nén, nứt vỡ, mài sát, mòn nhựa, bám dính tạp chất màu đen, đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,04 x 0,18)m, tâm cách đất 0,60m. Giảm sóc trước bên trái để lại vết mài sát, mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đen, đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,30 x 0,04m, tâm cách đất 0,35m. Má lốp bên trái bánh lốp trước để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,43 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,39m. Mép bên trái vành bánh trước để lại vết mài sát, sạch bụi đất, kích thước (0,34 x 0,01)m, tâm cách chân van 0,35m. Đầu bên trái trục bánh trước để lại vết mài sát, mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 0,26m. Để chân trước bên trái bị bật rời khỏi xe. Cần số bên trái bám dính tổ chức thực vật. Để chân sau bên trái, sườn xe bên trái, bên trái yên xe, vành bánh lốp phía sau bám dính bùn đất, tổ chức thực vật đã khô. Má lốp trước bên phải để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,11 x 0,02)m, tâm cách chân van 0,40m. Mặt lăn bánh lốp trước để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,23 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,41m.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Lường Văn T: Chiều dài tử thi 1,60m, thể tạng phát triển bình thường, đang trong giai đoạn mềm lạnh. Lỗ tai trái khô, lỗ tai phải, hai mũi và khoang miệng có máu khô. Hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn to, bầm tím hai bên hốc mắt. Cung mày trái có vết thương rách da được khâu bằng 05 mũi chỉ đang rỉ máu. Gò má phải có diện sây sát da, kích thước (11 x 7)cm. Đỉnh mũi, môi trên, môi dưới và cằm có diện sây sát da, kích thước (12 x 11)m. Sưng nề, biến dạng vùng mặt bên trái. Mặt sau vai phải có diện sây sát da, kích thước (3,5 x 0,8)cm. Đỉnh vai trái có diện sây sát da, kích thước (5 x 4)cm. Mặt ngoài khuỷu tai phải có vết sây sát da, kích thước (1 x 0,5)cm. Mặt mu cổ tay và bàn tay phải có diện sây sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (25 x 9)cm. Mặt ngoài gối phải có diện sây sát da, kích thước (1 x 0,4)m. Mặt trước ngoài cẳng tay trái có diện sây sát da, kích thước (20 x 8)cm. Mặt ngoài cổ tay trái có vết sây sát da, kích thước (3 x 1)cm. Mặt mu bàn tay trái có diện sây sát da, kích thước (18 x 9)cm. Mặt trước gối trái có diện sây sát da, kích thước (12 x 4)cm. Mặt mu đốt 1, ngón 1 bàn tay trái có diện sây sát da bầm tím, kích thước (1,5 x 1)cm. Mặt ngoài gối phải có vết sây sát da, kích thước (2,5 x 0,5)cm. Sờ nắn thấy gãy kín xương gò má trái, gãy đốt sống cổ số 3. Cắt chỉ vết thương cung mày trái kiểm tra thấy bầm tụ máu da và tổ chức dưới da vị trí tương ứng nứt vỡ xương hộp sọ vùng trán trái, trần hốc mắt trái, qua đường vỡ máu đỏ chảy ra bên ngoài.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1785/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lường Văn T do đa chấn thương. Chấn thương cột sống cổ, chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt. Thời gian chết của anh Lường Văn T cho đến thời điểm khám nghiệm tử thi dưới 06 tiếng. Tổn thương sưng nề, bầm tím sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc vơi vật tày, bề mặt không nhẵn theo chiều hướng khác nhau tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy xương đốt sống cổ, gãy xương gò má do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.

Ngày 23/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Giang, giám định: Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên hiện trường và trên phương tiện; vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 1981/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“1. Dấu vết mài trượt sơn, kim loại, bám dính chất màu đen in hình dạng vân lốp tại mặt sau giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển số 98B3- 594.56 có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 28 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển số 99G1 - 050.42, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh.

Dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại cánh yếm phải của xe mô tô biển số 98B3 - 594.56, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 27 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu đen (dạng sơn) tại chắn bùn trước bánh trước của xe mô tô biển số 99G1 – 50.42, có chiều hướng từ trước về sau.

2. Dấu vết cày xước ký hiệu số 2 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết cày xước ký hiệu số 4 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 với xe mô tô biển số 99G1

- 050.42 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2 và số 4 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường), thuộc phần đường bên phải theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh.

4. Chiều hướng: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 ở phía trước, đầu xe hướng sang bên phải theo hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 99G1 - 050.42.

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.

Ngày 13/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã thu giữ được tại Camera an ninh lắp đặt ở khu vực xảy ra vụ tai nạn toàn bộ hình ảnh Video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông như nêu trên.

Tại Phiếu đo nồng độ cồn của Công an huyện Việt Yên ngày 12/9/2022 đối với Đỗ Thị T thể hiện: Trong hơi thở của T có nồng độ cồn 0,216 mg/l. Tại phiếu xét nghiệm sinh hóa máu ngày 13/9/2022 của Trung tâm y tế huyện Việt Yên, xác định trong máu của anh Lường Văn T có định lượng Ethanol là 3 mg/dl.

Ngày 21/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá tài sản để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của hai xe mô tô trong vụ tai nạn giao thông.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 198 ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: Thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3 - 594.56 là 1.296.000 đồng, xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biểm số 99G1 - 050.42 là 1.730.000 đồng.

Ngày 22/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định xác định tỷ lệ % thương tích của Đỗ Thị T.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 138/22/TgT ngày 10/01/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Đỗ Thị T bị thương tích với tổng tỷ lệ 28%. Thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

Đối với anh Hoàng Văn L, là người bị thương tích trong vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định thương tích đối với anh L. Tuy nhiên, anh L xác định anh chỉ bị thương tích nhẹ, đến nay đã bình phục nên từ chối giám định thương tích.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1 - 050.42 là tài sản của anh Lường Văn T. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 cho gia đình anh T, xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3 - 594.56 cho chị Thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Đỗ Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Đỗ Thị T nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

. Về sự vắng mặt của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người liên quan nhưng đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Về cấu thành tội phạm: Đỗ Thị T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 11/9/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3- 594.56 khi trong cơ thể có nồng độ cồn 0,216 mg/l khí thở đi trên đường không ưu tiên hướng từ Khu công nghiệp Quang Châu qua hầm chui đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi tổ dân phố Ninh Khánh tới ngã tư đường giao nhau với đường ưu tiên là đường gom dân sinh dành cho các phương tiên đi theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh thuộc địa phận tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, T không giảm tốc độ, không nhường đường cho các phương tiện đi trên đường ưu tiên và đi từ bên phải đến, T tiếp tục điều khiển xe đi qua ngã tư đường (vi phạm quy định tại Điều 12, Điều 24 Luật giao thông đường bộ), nên để phần bên phải đầu xe mô tô do T điều khiển va chạm vào phần bên phải đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1-050.42 do anh Lường Văn T điều khiển chở phía sau là anh Hoàng Văn L đi trên đường ưu tiên theo hướng thành phố Bắc Giang đi Bắc Ninh. Hậu quả, anh Lường Văn T bị thương tích sau đó tử vong, T bị thương tích 28% sức khỏe, hai xe mô tô bị hư hỏng với tổng thiệt hại 3.026.000đồng.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Đỗ Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra trong vụ tai nạn giao thông có một phần lỗi của nạn nhân Tường điều khiển xe mô tô đi ngang qua ngã tư đã không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để đảm bảo an toàn khi qua ngã tư giao nhau, vi phạm quy định tại Điều 9, Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Do đó bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo cũng bị tổn thương 28% sức khỏe nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đỗ Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Bị cáo Đỗ Thị T đã bồi thường cho gia đình anh Lường Văn T số tiền 120.000.000 đồng. Hiện gia đình anh T, anh L, chị Thêm không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đỗ Thị T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả cho ông Lương Cao Giang giấy tờ và xe ô tô 98A-143.63; trả lại cho chị Vũ Thị Hằng xe mô tô 98K1-087.83 và 01 mảnh nhựa vỡ của xe; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 2001 là con đẻ chị Hạnh được gia đình ủy quyền tham gia tố tụng chiếc xe 98D1-389.30.

. Những vấn đề khác:

Đối với chị Đỗ Thị T: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, chị Thêm khai thời điểm bị cáo T lấy xe mô tô của chị đi chị không biết vì khi đó chị Thêm đi làm về và đi ngủ. Do đó, việc T điều khiển xe gây tai nạn chị Thêm không có lỗi nên không vi phạm pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ