vanban.org

Bản án 126/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 82/2023/HS-ST Tuyên án 10/05/2023
Phúc thẩm — đang xem Bản án 126/2023/HS-PT Tuyên án 10/08/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-PT
Ngày: 10-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Hải Hường

Bà Trần Thị Hà

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Hoài Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 192/2023/TLPT-HS ngày 21/6/2023 đối với bị cáo Đỗ Thị T, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Thị T, sinh năm 2003; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Đỗ Văn S, sinh năm 1967. Con bà: Thân Thị M, sinh năm 1972. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư. Chồng, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 11/9/2022, T tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3-594.56 của chị gái là Đỗ Thị Th, sinh năm 2001 đang sống cùng nhà với T rồi điều khiển đi đến thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang ăn tối, uống bia cùng bạn. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô một mình trên đường giao thông hướng từ Khu công nghiệp Q qua hầm chui đường cao tốc Hà Nội-Bắc Giang đi tổ dân phố N để về nhà ngủ. Khoảng 10 phút sau, T điều khiển xe mô tô đi qua hầm chui đường cao tốc tới ngã tư đường giao nhau giữa đường nhánh theo hướng đi của T với đường ưu tiên là đường gom dân sinh dành cho các phương tiện giao thông đi theo hướng thành phố B đi thành phố B1 thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, T không giảm tốc độ, không nhường đường cho các phương tiện đi trên đường ưu tiên, tiếp tục điều khiển xe đi qua ngã tư đường nên để phần đầu xe mô tô do T điều khiển va chạm vào đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1-050.42 do anh Lường Văn T, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển chở phía sau là anh Hoàng Văn L, sinh năm 1990 ở cùng thôn đi trên đường ưu tiên theo hướng thành phố B đi thành phố B1. Sau va chạm giao thông, hai xe mô tô đổ, anh L bị thương tích nhẹ, anh T, và T bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện Quân y 110, tỉnh Bắc Ninh điều trị thương tích. Đến ngày 12/9/2022 thì anh T tử vong, còn T tiếp tục điều trị tại Bệnh viện đến ngày 04/10/2022 thì ra viện với thương tích: Gãy kín 1/3 giữa xương đòn phải, rách da vùng cung mày phải, chấn động não.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn và khám nghiệm tử thi.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường gom dân sinh thuộc tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa phẳng, rộng 11m. Theo chiều đi từ thành phố Bắc Giang đi thành phố B1, chiều đường bên phải được chia thành hai làn đường xe chạy, rộng lần lượt là 3,3m và 1,9m bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m và có đường đi vào tổ dân phố N, đầu đường rộng 16,2m, chiều đường bên trái được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 1,95m và 3,3m bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,2m và có đường đi qua hầm chui dân sinh sang khu công nghiệp Q, đầu đường rộng 26,0m. Trên đường dân sinh từ tổ dân phố N đi Khu công nghiệp Q bên phải đường có cắm biển báo hiệu nguy hiểm W208 (Giao nhau với đường ưu tiên) và có mương nước rộng 4,6m, sâu 1,9m. Trên đường gom dân sinh bên phải đường theo chiều đi từ thành phố Bắc Ninh đi thành phố B có cắm biển báo hiệu nguy hiểm 207a (Giao nhau với đường không ưu tiên), bên trái đường là lề cỏ rộng 2,2m.

Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ thành phố Bắc Giang đi thành phố B1 lấy chân cột biển báo nguy hiểm W208 trên đường dân sinh bên phải đường làm mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn. Trên hiện trường để lại:

Vết dầu trên mặt đường gom dân sinh (ký hiệu số 1), kích thước (8,75 x 2,0)m, tâm đầu vết dầu cách mép đường bên phải 2,05m, tâm cuối vết dầu nằm dưới vị trí đầu xe mô tô biển số 98B3- 594.56.

Vết cày mặt đường (ký hiệu số 2), kích thước (7,1 x 0,01)m, tâm đầu vết cày cách mép đường bên phải 1,29m và cách tâm đầu dấu vết ký hiệu số 1 là 1m; tâm cuối vết cày nằm trên lề cỏ bên phải đường, tâm cách mép đường bên phải là 2,2m và cách trục bánh sau của xe mô tô biển số 99G1- 050.42 là 1,7m.

Xe mô tô biển số 99G1- 050.42 (ký hiệu số 3) đang đổ nghiêng bên trái dưới mương nước bên phải đường, đầu xe hướng thành phố B1, đuôi xe hướng thành phố B, trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,5m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 2,9m.

Vết cày mặt đường (ký hiệu số 4), kích thước (7,8 x 0,01)m, tâm đầu vết cày cách mép đường bên phải 2,32m, cách tâm đầu vết cày ký hiệu số 2 là 1,1m và cách đầu mép bên trái đầu đường đi sang Khu công nghiệp Q là 20,2m; tâm cuối vết cày nằm dưới vị trí đầu để chân trước bên trái của xe mô tô biển số 98B3-594.56 và cách mép đường bên phải 0,66m.

Xe mô tô biển số 98B3- 594.56 (ký hiệu số 5) đang đổ nghiêng bên phải trên đường, đầu xe hướng tổ dân phố N đuôi xe hướng khu công nghiệp Q, trục bánh trước nằm trên mép đường bên phải, trục bánh sau cách mép đường bên phải 1,15m.

Bãi máu nằm trên mặt đường (ký hiệu số 6), kích thước (0,5 x 0,46)m, tâm cách mép đường bên phải là 1,7m và cách tâm đầu dấu vết ký hiệu số 2 là 3,7m.

Bãi máu nằm trên mặt đường (ký hiệu số 7), kích thước (0,3 x 0,2), tâm bãi máu cách mép đường bên phải 0,4m và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 98B3-594.56 là 0,90m.

Khoảng cách 13 m tính từ đầu tâm dấu vết ký hiệu số 2 đến chân cột biển báo nguy hiểm W208 “Giao nhau với đường ưu tiên” được cắm trên đường dân sinh bên phải đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ hai xe mô tô nêu trên để phục vụ công tác điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3 - 594.56 (sơn màu đen-bạc, dung tích 110 m3): Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Đầu núm tay lái bên phải để lại vết mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,02 x 0,02)m, tâm cách đất 1,04m. Mặt ngoài bên phải phía dưới ốp nhựa đầu xe để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,08 x 0,01)m, tâm cách đất 0,94m. Mặt nạ đầu xe để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,22 x 0,07)m, tâm cách đất 0,85m. Cánh yếm bên phải bị tì nén, nứt vỡ, mặt ngoài mài sát, bám dính tạp chất màu xanh, kích thước (0,60 x 0,15)m, tâm cách đất 0,65m. Mặt bên phải chắn bùn phía trước để lại vết mài sát, mòn sơn, kích thước (0,13 x 0,06)m, tâm cách đất 0,60m, nứt vỡ nhựa. Giảm sóc trước bên phải để lại vết mài sát kim loại, bám dính tạp chất màu đen, in hình dạng vân lốp, kích thước (1,18 x 0,05)m, tâm cách đất 0,43m. Nan hoa bánh trước bị tì nén, cong vênh, biến dạng, đứt gãy chân, hướng từ phải sang trái, kích thước (0,35 x 0,13)m, tâm cách chân van 0,10m. Để chân sau bên phải bị tì nén, mài sát, mòn cao su, kim loại, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 0,35m. Để chân trước bên phải bị tì nén, cong vênh, mài sát, mòn cao su, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 0,33m. Bảo vệ pô xe bên phải bị tì nén, bẹp lõm, mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,36 x 0,08)m, tâm cách đất 0,26m. Mặt bên phải tay cầm phía sau bị mài sát, mòn cao su, kích thước (0,09 x 0,03), tâm cách đất 0,82m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1 - 050.42 (sơn màu xanh - đen - bạc): Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Ốp nhựa đầu xe bị tì nén, nứt vỡ. Đèn xi nhan phía trước bên trái bị bật rời khỏi xe. Đầu tay lái bên trái bị tì nén, cong vênh, mài sát, mòn kim loại, kích thước (0,04 x 0,01)m, tâm cách đất 0,95m. Mặt nạ đầu xe để lại vết mài sát, mòn nhựa, kích thước (0,1 x 0,05)m, tâm cách đất 0,87m. Cánh yếm bên trái bị tì nén, nứt vỡ, mặt ngoài mài sát, mòn nhựa, bám dính đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,70 x 0,12)m, tâm cách đất 0,54m. Chắn bùn bánh trước bị tì nén, nứt vỡ, mài sát, mòn nhựa, bám dính tạp chất màu đen, đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,04 x 0,18)m, tâm cách đất 0,60m. Giảm sóc trước bên trái để lại vết mài sát, mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đen, đất, tổ chức thực vật, kích thước (0,30 x 0,04m, tâm cách đất 0,35m. Má lốp bên trái bánh lốp trước để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,43 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,39m. Mép bên trái vành bánh trước để lại vết mài sát, sạch bụi đất, kích thước (0,34 x 0,01)m, tâm cách chân van 0,35m. Đầu bên trái trục bánh trước để lại vết mài sát, mòn kim loại, bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 0,26m. Để chân trước bên trái bị bật rời khỏi xe. Cần số bên trái bám dính tổ chức thực vật. Để chân sau bên trái, sườn xe bên trái, bên trái yên xe, vành bánh lốp phía sau bám dính bùn đất, tổ chức thực vật đã khô. Má lốp trước bên phải để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,11 x 0,02)m, tâm cách chân van 0,40m. Mặt lăn bánh lốp trước để lại vết mài sát, mòn cao su, kích thước (0,23 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,41m.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Lường Văn T: Chiều dài tử thi 1,60m, thể tạng phát triển bình thường, đang trong giai đoạn mềm lạnh. Lỗ tai trái khô, lỗ tai phải, hai mũi và khoang miệng có máu khô. Hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn to, bầm tím hai bên hốc mắt. Cung mày trái có vết thương rách da được khâu bằng 05 mũi chỉ đang rỉ máu. Gò má phải có diện sây sát da, kích thước (11 x 7)cm. Đỉnh mũi, môi trên, môi dưới và cằm có diện sây sát da, kích thước (12 x 11)m. Sưng nề, biến dạng vùng mặt bên trái. Mặt sau vai phải có diện sây sát da, kích thước (3,5 x 0,8)cm. Đỉnh vai trái có diện sây sát da, kích thước (5 x 4)cm. Mặt ngoài khuỷu tai phải có vết sây sát da, kích thước (1 x 0,5)cm. Mặt mu cổ tay và bàn tay phải có diện sây sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (25 x 9)cm. Mặt ngoài gối phải có diện sây sát da, kích thước (1 x 0,4)m. Mặt trước ngoài cẳng tay trái có diện sây sát da, kích thước (20 x 8)cm. Mặt ngoài cổ tay trái có vết sây sát da, kích thước (3 x 1)cm. Mặt mu bàn tay trái có diện sây sát da, kích thước (18 x 9)cm. Mặt trước gối trái có diện sây sát da, kích thước (12 x 4)cm. Mặt mu đốt 1, ngón 1 bàn tay trái có diện sây sát da bầm tím, kích thước (1,5 x 1)cm. Mặt ngoài gối phải có vết sây sát da, kích thước (2,5 x 0,5)cm. Sờ nắn thấy gãy kín xương gò má trái, gãy đốt sống cổ số 3. Cắt chỉ vết thương cung mày trái kiểm tra thấy bầm tụ máu da và tổ chức dưới da vị trí tương ứng nứt vỡ xương hộp sọ vùng trán trái, trần hốc mắt trái, qua đường vỡ máu đỏ chảy ra bên ngoài.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1785/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lường Văn T do đa chấn thương. Chấn thương cột sống cổ, chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt. Thời gian chết của anh Lường Văn T cho đến thời điểm khám nghiệm tử thi dưới 06 tiếng. Tổn thương sưng nề, bầm tím sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc vơi vật tày, bề mặt không nhẵn theo chiều hướng khác nhau tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy xương đốt sống cổ, gãy xương gò má do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.

Ngày 23/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Giang, giám định: Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên hiện trường và trên phương tiện; vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 1981/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“1. Dấu vết mài trượt sơn, kim loại, bám dính chất màu đen in hình dạng vân lốp tại mặt sau giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển số 98B3- 594.56 có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 28 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển số 99G1 - 050.42, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh.

Dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại cánh yếm phải của xe mô tô biển số 98B3 - 594.56, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 27 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu đen (dạng sơn) tại chắn bùn trước bánh trước của xe mô tô biển số 99G1 - 50.42, có chiều hướng từ trước về sau.

2. Dấu vết cày xước ký hiệu số 2 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết cày xước ký hiệu số 4 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 với xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2 và số 4 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường), thuộc phần đường bên phải theo hướng thành phố B đi thành phố B1.

4. Chiều hướng: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển số 98B3 - 594.56 ở phía trước, đầu xe hướng sang bên phải theo hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 99G1 - 050.42.

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.

Ngày 13/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã thu giữ được tại Camera an ninh lắp đặt ở khu vực xảy ra vụ tai nạn toàn bộ hình ảnh Video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông như nêu trên.

Tại Phiếu đo nồng độ cồn của Công an huyện V ngày 12/9/2022 đối với Đỗ Thị T thể hiện: Trong hơi thở của T có nồng độ cồn 0,216 mg/l. Tại phiếu xét nghiệm sinh hóa máu ngày 13/9/2022 của Trung tâm y tế huyện V, xác định trong máu của anh Lường Văn T có định lượng Ethanol là 3 mg/dl.

Ngày 21/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá tài sản để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của hai xe mô tô trong vụ tai nạn giao thông.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 198 ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3 - 594.56 là 1.296.000 đồng, xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biểm số 99G1 - 050.42 là 1.730.000 đồng.

Ngày 22/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định xác định tỷ lệ % thương tích của Đỗ Thị T.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 138/22/TgT ngày 10/01/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Đỗ Thị T bị thương tích với tổng tỷ lệ 28%. Thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

Đối với anh Hoàng Văn L, là người bị thương tích trong vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y-Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định thương tích đối với anh L. Tuy nhiên, anh L xác định anh chỉ bị thương tích nhẹ, đến nay đã bình phục nên từ chối giám định thương tích.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1 - 050.42 là tài sản của anh Lường Văn T. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 99G1 - 050.42 cho gia đình anh T, xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3

- 594.56 cho chị Thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, Đỗ Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/5/2023 bị cáo Đỗ Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị T thay đổi một phần nội dung kháng cáo, bị cáo rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo với lý do: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, bị cáo cũng bị thương tích 28% sức khỏe, sức khỏe yếu do bị ảnh hưởng do tai nạn giao thông. Ngoài ra, gia đình bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại, được đại diện gia đình người bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, gia đình bị cáo và bị cáo luôn chấp hành tốt ở địa phương. Mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội giúp đỡ gia đình vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và phạt bị cáo 02 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm đại diện gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, xác nhận của Công an thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên nơi bị cáo sinh sống xác nhận bản thân bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt quy định của địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo tuổi đời con trẻ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bản thân bị cáo cũng bị thương mất 28% sức khỏe, người bị hại (anh T) tham gia giao thông có lỗi một phần là khi điều khiển đến ngã tư giao nhau không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 02 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý phát biểu của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Do sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo mới lớn chưa có gia đình, bản thân luôn chấp hành pháp luật mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để được giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Về tội danh: Đỗ Thị T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 11/9/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98B3- 594.56 khi trong cơ thể có nồng độ cồn 0,216 mg/l khí thở đi trên đường không ưu tiên hướng từ Khu công nghiệp Q qua hầm chui đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi tổ dân phố N tới ngã tư đường giao nhau với đường ưu tiên là đường gom dân sinh dành cho các phương tiên đi theo hướng thành phố B đi thành phố B1 thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, T không giảm tốc độ, không nhường đường cho các phương tiện đi trên đường ưu tiên và đi từ bên phải đến, T tiếp tục điều khiển xe đi qua ngã tư đường (vi phạm quy định tại Điều 12, Điều 24 Luật giao thông đường bộ), nên để phần bên phải đầu xe mô tô do T điều khiển va chạm vào phần bên phải đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99G1-050.42 do anh Lường Văn T điều khiển chở phía sau là anh Hoàng Văn L đi trên đường ưu tiên theo hướng thành phố Bắc Giang đi Bắc Ninh. Hậu quả, anh Lường Văn T bị thương tích sau đó tử vong, T bị thương tích 28% sức khỏe, hai xe mô tô bị hư hỏng với tổng thiệt hại 3.026.000 đồng

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xác định bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm bị cáo tiếp tục được gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, xác nhận của Công an thị trấn N, huyện V nơi bị cáo cư trú bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt mọi chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, trong vụ án này bị hại là anh Lường Văn T cũng có một phần lỗi là khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đến khu vực ngã tư đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, điều khiển xe khi trong người có nồng độ cồn, bản thân bị cáo cũng bị tổn hại 28% sức khỏe. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng nên đủ điều kiện hưởng án treo theo các quy định của pháp luật và Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang theo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là có căn cứ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện V.

2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Đỗ Thị T cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đỗ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ