- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Tiến C và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Đỗ Tiến C, Lê Hữu K phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2022/HS-ST Ngày 28-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Lê Thanh Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Quang và bà Vũ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Hiếu – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Tiến C, sinh năm 1989; nơi sinh: xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn TK, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tiến O1 và bà Hoàng Thị O2; vợ là Vũ Thị O3 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 31 ngày 19/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 11/5/2013.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/10/2022 đến ngày 17/10/2022 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
2. Lê Hữu K, sinh năm 1997; nơi sinh: phƣờng MĐ, thị xã MH, tỉnh Hƣng Yên; nơi cƣ trú: tổ dân phố TV, phƣờng MĐ, thị xã MH, tỉnh Hƣng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu P1 và bà Phạm Thị P2; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/10/2022 đến ngày 17/10/2022 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
Ngư i ào ch a cho cáo Đ Ti n C: ng Phạm Văn Điều - Trợ giúp viên pháp lý c a Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
Ngƣời làm chứng: Anh Phạm H ng T1, anh Nguyễn Văn T2, anh Đỗ Văn T3.
(Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trƣa ngày 14/10/2022, Đỗ Tiến C đang ở nhà tại thôn TK, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng thì Lê Hữu K và Phạm H ng T1 đến chơi. C, K, T1 và Đỗ Văn T3 (là em trai C) cùng ng i chơi, uống bia tại phòng ng tầng hai. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, T3 đi về nhà bà nội là bà Lê Thị V (T3 đang ở cùng bà V) ở bên cạnh để nghỉ trƣa; T1 nằm ng , C và K ng i chơi tại phòng ng c a C. Khoảng 14 giờ cùng ngày, K nói với T1 Cho mượn xe một tí nhƣng không nói cho T1 biết đi đâu, T1 đ ng ý r i đƣa chìa khóa xe mô tô BKS 34B4-516.91 cho K mƣợn. K r C đi mua ma túy về sử dụng, C đ ng ý. K điều khiển xe chở C đến khu vực thôn SL, xã PU, huyện AT, tỉnh Hƣng Yên tìm mua ma túy. Khi đến nơi C đứng ở ngoài chờ, K đi vào trong ngõ gặp mua c a ngƣời phụ nữ (không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch) 01 túi ma túy đá với giá 600.000 đ ng. Sau đó, K đƣa túi ma túy vừa mua cho C cầm r i điều khiển xe chở C về nhà.
Khi về đến nhà, C thấy có Nguyễn Văn T2 cũng đang ở nhà C chơi. C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 2 bật lửa để ra vị trí đệm ở giữa nhà trong phòng ng c a C. C đổ túi ma túy vừa mua đƣợc vào coóng th y tinh, dùng bật lửa hơ dƣới coóng để tạo khói r i mời T2 sử dụng trƣớc bằng hình thức hút trực tiếp từ ống hút nhựa, sau đó đến K, K sử dụng xong C cầm coóng mời T1 sử dụng, sau khi mời mọi ngƣời xong, C sử dụng. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi 4 đối tƣợng sử dụng xong ma túy thì T3 đi lên phòng c a C, thấy trên đệm có bộ sử dụng ma túy, T3 tự ý lấy sử dụng. Ngay lúc đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang phối hợp với Công an xã Vĩnh Hƣng phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 bộ sử dụng ma túy, g m: 01 chai nhựa bên trong đựng nƣớc, nắp chai có 2 lỗ, 1 lỗ gắn với ống hút nhựa (1 ống màu vàng dài 17cm nối với ống màu tím dài 30cm, đƣờng kính 0,5cm và 1 ống màu vàng dài 10cm), 1 lỗ gắn với coóng th y tinh (đƣợc làm từ 2 ống th y tinh, 1 ống dài 16cm, đƣờng kính 0,5cm nối với 1 ống dài 14cm, đƣờng kính 2 cm bằng băng dính màu đen) bên trong có chất rắn màu đen và chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 13cm; 2 bật lửa ga (1 bật lửa màu tím, 1 bật lửa màu xanh có đầu ống đốt dài 8cm đƣợc làm từ ruột bút bi và ống kim loại); 1 túi nilon có nẹp cài viền màu trắng kích thƣớc (2 x 2)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, C và K khai nhận là ma túy đá mua về sử dụng. Quản lý c a Phạm H ng T1 xe mô tô nhãn hiệu Wave α BKS 34B4-516.91.
Kết quả xét nghiệm phát hiện ma túy trong nƣớc tiểu do Cơ quan Cảnh sát điều tra lập ngày 14/10/2022 xác định: C, K, T2, T1, T3 dƣơng tính với ma túy loại Methamphetamine.
Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy c a Trung tâm y tế huyện Bình Giang xác định: C, K, T2, T1, T3 đều không phải là ngƣời nghiện ma túy.
Kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 17/10/2022 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng và chất rắn màu đen trong ống th y tinh thu tại nhà C gửi đến giám định tổng khối lƣợng là 0,040g là ma túy, loại Methamphetamine; chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng thu tại nhà C gửi đến giám định khối lƣợng là 0,002g là ma túy, loại Methamphetamine.
Hoàn lại đối tƣợng giám định 1 ống th y tinh, một đầu nối với 1 đoạn ống th y tinh, phần nối đƣợc quấn băng dính màu đen; 1 vỏ túi nilon và 2 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.
Methamphetamine - STT 247, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 c a Chính ph .
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 12-12-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo Đỗ Tiến C, Lê Hữu K về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội c a mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ; đề nghị Hội đ ng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm đƣợc đoàn tụ với gia đình.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đỗ Tiến C xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ; nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ vị đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa; đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét đến hoàn cảnh kinh tế c a bị cáo khó khăn, thuộc hộ nghèo cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề xuất, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên T3 định truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Tiến C, Lê Hữu K phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến C từ 7 năm 9 tháng đến 8 năm 3 tháng tù; bị cáo Lê Hữu K từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu h y: 2 ống th y tinh đƣợc nối với nhau bằng băng dính màu đen, 1 vỏ túi nilon và 2 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 2 bật lửa ga; 1 chai nhựa, 4 ống hút nhựa. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 c a UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Lê Hữu K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Tiến C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời bào chữa là hợp pháp.
Lời khai nhận tội c a các bị cáo tại phiên toà phù hợp nhau, phù hợp biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai c a những ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ vụ án, có đ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 15 giờ 45 phút ngày 14/10/2022, tại thôn TK, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng. Lê Hữu K có hành vi cung cấp ma túy; Đỗ Tiến C dùng nhà ở c a mình, chuẩn bị dụng cụ để các bị cáo cùng Nguyễn Văn T2, Phạm H ng T1, Đỗ Văn T3 sử dụng trái phép chất ma túy, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với Công an xã Vĩnh Hƣng phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Các bị cáo có đ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền c a Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; các bị cáo tổ chức cho 02 ngƣời trở lên sử dụng trái phép chất ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Các bị cáo đ ng phạm giản đơn, Lê Hữu K là ngƣời đề xuất đ ng thời là ngƣời trực tiếp mua, cung cấp ma túy cho các đối tƣợng sử dụng; Đỗ Tiến C sử dụng chỗ ở c a mình, chuẩn bị dụng cụ, đổ, hơ ma túy để các đối tƣợng sử dụng nên giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c a các bị cáo thấy rằng: Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Tiến C có nhân thân xấu, đã một lần bị kết án; bị cáo Lê Hữu K có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định c a Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội c a hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đ ng xét xử thấy cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đ tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định (trong đó bị cáo Đỗ Tiến C thuộc hộ nghèo), phạm tội không vì động cơ vụ lợi nên Hội đ ng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Quá trình điều tra không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch c a ngƣời phụ nữ đã bán ma túy cho K nên không có căn cứ xử lý.
Phạm H ng T1 cho Lê Hữu K mƣợn xe mô tô nhƣng không biết K đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 0,042g Methamphetamine c a C, K nhƣng chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy c a C, K, T2, T1, T3, ngày 03/11/2022 Công an huyện Bình Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 2 ống th y tinh đƣợc nối với nhau bằng băng dính màu đen, 1 vỏ túi nilon và 2 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 2 bật lửa ga; 1 chai nhựa, 4 ống hút nhựa, đây là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu h y.
Về án phí: Bị cáo Lê Hữu K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Đỗ Tiến C bị kết án nhƣng thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo và ngƣời bào chữa cho bị cáo đề nghị đƣợc miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 c a UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo.
1. Tuyên bố: các bị cáo Đỗ Tiến C, Lê Hữu K phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt chính: Xử phạt:
- Bị cáo Đỗ Tiến C 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/10/2022.
- Bị cáo Lê Hữu K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/10/2022.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu h y: 2 ống th y tinh đƣợc nối với nhau bằng băng dính màu đen, 1 vỏ túi nilon và 2 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 2 bật lửa ga; 1 chai nhựa, 4 ống hút nhựa. (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).
4. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Tiến C.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Trại tạm giam – CA tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Bình Giang; - CQ CSĐT – CA huyện Bình Giang; - CCTHADS huyện Bình Giang; - CQ THAHS huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Ngƣời bào chữa; - Lƣu HS; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Nam |