- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? * Căn Cứ : khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HSST Ngày: 08/8/2018 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lê Văn Chơn
+ Bà Lưu Thị Thôi
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 8 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2018/TLST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2018/QĐXXST-HS ngày 27/7/2018 đối với bị cáo:
1. LÊ NGỌC H (tên gọi khác: c ) - sinh năm 1991 tại Bình Thuận.
Nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H1 – sinh năm 1968 và bà Phan Thị Lệ C , sinh năm 1972; Tiền án: không. Tiền sự: ngày 07/11/2017 bị Chủ tịch UBND phường Đức Long ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã , phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Về nhân thân: tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2018/HSST ngày 15/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” đối với hành vi phạm tội đã thực hiện vào ngày 25/12/2017. Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết từ ngày 24/7/2018 theo thông báo số 31/TB-CQTHAHS ngày 25/7/2018 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Phan Thiết.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trần Quốc V – sinh năm 1977
Địa chỉ: khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Bà Hoàng Thị Ngọc V – sinh năm: 1981 địa chỉ: khu
phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 07/11/2017, trên đường đi bộ về nhà, Lê Ngọc H phát hiện trước nhà ông Trần Quốc V dựng một chiếc xe môtô điện loại CMV màu đỏ đen do ông V làm chủ sở hữu. Lúc này H quan sát xung quanh không có người và nhìn thấy trong nhà ông V không có ai trông coi nên H đi đến gần, lén lút cầm tay lái, gạt chân chống dắt xe ra khỏi khu vực nhà ông V. Đến khoảng 18 giờ 40 cùng ngày H gặp bà Hoàng Thị Ngọc V tại khu dân cư ở khu phố 7, phường Đức Long, thành phố Phan Thiết năn nỉ bà V nhận cầm giùm chiếc xe mô tô điện. Bà V không biết đây là tài sản có nguồn gốc phạm pháp nên đã đồng ý nhận cầm cố. H đẩy chiếc xe mô tô về nhà bà V lấy 1.000.000 đồng và tiêu sài hết. Nhận được thông tin từ hàng xóm, ông V làm đơn báo về hành vi của H đến công an phường Đức Long.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG ngày 07/3/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe điện màu đỏ đen có nhãn hiệu CMV, số máy 01244- số khung : GT170401244 có giá là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Ông Trần Quốc V đã nhận tài sản từ cơ quan điều tra và không yêu cầu gì về dân sự. Số tiền 1.000.000 đồng H nhận của bà V thì H đã trả lại cho bà V nên bà V không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSPT ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố đối với Lê Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt thành khẩn khai báo cho bị cáo Lê Ngọc H theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc H từ 09 tháng đến 12 tháng tù và tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 56/2018/HSST ngày 15/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Bị cáo Lê Ngọc H không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên và đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt .
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại ông Trần Quốc V : ông V có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX xét xử vắng mặt bị hại.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 ngày 07/11/2017, lợi dụng không có ai trông coi, Lê Ngọc H đã lén lút chiếm đoạt của ông Trần Quốc V 01 chiếc xe điện màu đỏ đen có nhãn hiệu CMV, số máy 01244- số khung: GT170401244 có giá là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Như vậy hành vi của bị cáo Lê Ngọc H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với bị cáo Lê Ngọc H với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Lê Ngọc H thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: bị cáo Lê Ngọc H biết rõ pháp luật sẽ nghiêm trị những ai có hành vi xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác nhưng bị cáo muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài không bằng con đường lao động chân chính nên đã lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an ở địa phương nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo để trở thành người tốt có ích cho xã hội và qua đó răn đe những ai có ý đồ phạm tội tương tự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ tương xứng với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị.
Về tổng hợp hình phạt: theo bản án hình sự sơ thẩm số 56/2018/HSST ngày 15/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, bị cáo H bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” đối với hành vi phạm tội vào ngày 25/12/2017. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết từ ngày 24/7/2018 theo quyết định thi hành án số 36/2018/QĐ-CA ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết và thông báo số 31/TB-CQTHAHS ngày 25/7/2018 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Phan Thiết. Do vậy cần áp dụng Điều 51 BLHS năm 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009) để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.
Về phần bồi thường dân sự: bị hại ông Trần Quốc V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên không xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn Cứ : khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
* Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 56/2018/HSST ngày 15/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, buộc bị cáo Lê Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2018 (ngày bị cáo đi chấp hành án theo quyết định thi hành án số 36/2018/QĐ-CA ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết và thông báo số 31/TB-CQTHAHS ngày 25/7/2018 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Phan Thiết) nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2017 đến ngày 24/01/2018.
* Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Tuyên buộc bị cáo Lê Ngọc H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (08/8/2018). Quyền kháng cáo bản án của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Phan Thiết
Đã kí
- VKSND tỉnh Bình Thuận
Nguyễn Lê Phương
- Công an thành phố Phan Thiết
- Người tham gia tố tụng
- UBND địa phương nơi b/c thường trú.
- Chi cục THADS Phan Thiết
- Cổng TTĐT TANDTC
- Lưu hồ sơ HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND thành phố Phan Thiết - VKSND tỉnh Bình Thuận - Công an thành phố Phan Thiết - Người tham gia tố tụng - UBND địa phương nơi b/c thường trú. - Chi cục THADS Phan Thiết - Cổng TTĐT TANDTC - Lưu hồ sơ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Phương |