vanban.org

Bản án 81

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 27/12/2024 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P. [2] Căn cứ: điểm e khoản 2 điều 155,Điểm b, i, s khoản 1 điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Công Tuấn Anh - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 155 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 81/2024/HS-PT
Ngày 27 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa

Ông Nguyễn Quang Vũ

phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn A

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Hán Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của bị hại Phạm T P đối với Bản án hình sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P đối với:

Bị cáo: Lê Công Tuấn A; sinh năm 1998; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm Vũ, xã L, huyện T, tỉnh P; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Xuân T, sinh năm 1971;Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1978;Vợ: Vũ Thị T H, sinh năm 2004; Con: 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo tại ngoại tại xã L, huyện T, tỉnh P. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

Bị hại: Chị Phạm T P, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Khu 2, xã H, huyện T, tỉnh P (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Vũ Đình Trung – Luật sư Công ty Luật Hợp Danh Hùng Vương, P (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 05/2022, Lê Công Tuấn A và chị Phạm T P quen biết nhau qua mối quan hệ xã hội và có nói chuyện qua lại với nhau. Đến khoảng 17 giờ ngày 16/7/2022, Tuấn A rủ chị P đi xem đánh bóng chuyền tại xã T– huyện T thì chị P đồng ý. Sau đó, Tuấn A đến nhà chị P ở khu 2, xã H, huyện T đón chị P rồi hai người đi xem bóng chuyền tại xã T, huyện T. Sau khi xem bóng chuyền xong, chị P về nhà Tuấn A Tộc Xóm Vũ, xã L, huyện T để ăn cơm cùng gia đình Tuấn A. Tại đây, Tuấn A và chị P cùng ăn cơm với bà Nguyễn Thị H (Sinh năm 1978 - Là mẹ đẻ của Tuấn A), ông Lê Xuân T (Sinh năm 1971 - Là bố đẻ của Tuấn A); chị Lê Hoài N (Sinh năm 2004) và anh Lê Quốc K (Sinh năm 2005), - Là em ruột của Tuấn A. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong thì Tuấn A cùng chị P và chị N đi uống bia tại quán nước Tộc xóm Vũ, xã L. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Tuấn A cùng chị N và chị P về phòng của Tuấn A ngồi chơi. Tại đây, chị P có nhờ chị N nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị gái chị P là Phạm Thị Linh (Sinh năm: 2000, HKTT: khu 2, xã H, huyện T) để xin cho chị P được ngủ lại nhà Tuấn A thì chị N đồng ý và nhắn tin cho chị Linh xin cho chị P ở lại nhà Tuấn A ngủ và được Linh đồng ý. Sau đó, N đi về phòng riêng của N ngủ còn chị P nằm trên đệm tại nền phòng ngủ của Tuấn A, Tuấn A ngồi trên ghế làm việc. Lúc này, chị P nôn ra nền phòng ngủ nên Tuấn A đi đến cởi áo của chị P để lau chất nôn trên người cho chị P. Sau đó, Tuấn A hỏi P “Có yêu không” (ý là quan hệ tình dục không) thì chị P nói “Có, nhưng mà đang đến tháng có sao không anh?" thì Tuấn A bảo “Không sao đâu". Và dùng tay kéo quần ngoài và quần lót của P xuống rồi để ở cuối đệm sát tường. Sau đó, Tuấn A sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Zenno 6 của mình bật chế động quay video ghi lại hình ảnh quần áo của chị P và hình ảnh chị P đang nằm đắp chăn (video này có độ dài 13 giây). Sau khi quay đoạn video trên thì Tuấn A tự cởi quần áo của mình ra và nói với P là “Doggy nhờ” (ý là quan hệ tình dục ở tư thế P bò, Tuấn A quỳ phía sau để quan hệ tình dục) thì P không nói gì mà quay người ở tư thế bò rồi Tuấn A quỳ phía sau đưa dương vật vào trong âm đạo của P để quan hệ tình dục. Trong khi quan hệ tình dục ở tư thế này, Tuấn A tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO Zenno 6 của mình quay lại hình ảnh Tuấn A quan hệ tình dục với P với thời gian quay là 01 phút 48 giây. Tuấn A quan hệ tình dục với P được khoảng 03 phút, chưa xuất tinh thì dừng lại không quan hệ tình dục nữa, Tuấn A đi tắm rửa rồi quay lại nằm ôm P ngủ. Đến khoảng 00 giờ ngày 17/7/2022, chị Vũ Thị T Hiền(Sinh năm 2004, HKTT: Khu 4, xã T, huyện T- là bạn gái của Tuấn A) đến gặp Tuấn A và biết P đang ở trong phòng của Tuấn A nên chị Hiền đã yêu cầu Tuấn A phải đưa chị P về nhà thì Tuấn A đồng ý. Sau đó, Tuấn A đi vào phòng gọi bảo chị P dậy để về nhà chị P, thời điểm này Tuấn A lại lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Zenno 6 tiếp tục quay hình ảnh Tuấn A dùng tay trái sờ ngực P với thời gian quay là 31 giây, trong khi quay video Tuấn A nói với P "Đi về nhé”, P nói "Đưa về bà giết đấy”, Tuấn A nói "Cái gì”, P nói “Giờ này đưa về bà giết", Tuấn A nói “Sao giết thì nhà vẫn phải về chứ", P nói “Xin phép rồi không phải về”, Tuấn A nói “Hiền đang ở đây, Hiền bắt anh đưa em về" thì P không nói gì rồi dậy mặc quần áo. Trong khi chờ P mặc quần áo, Tuấn A sử dụng chiếc điện thoại OPPO Zenno 6 đăng nhập ứng dụng Messenger qua tài khoản cá nhân tên “Tuan Anh” của mình đăng tải 03 video mà Tuấn A đã quay trên lên nhóm chat “Team Bóng Chuyền X" với mục đích để “ra oai” với mọi người trong nhóm. Thời điểm này nhóm chat có tổng số 9 thành viên, do Lê Công Tuấn A làm quản trị viên, 9 người còn lại gồm: Cao Bá Việt (Sinh năm 1991, HKTT: Xóm Vũ – xã L – huyện T); Trần Quốc N (Sinh năm 1994), Ngô Văn Q (Sinh năm 1991), Ngô Quang V (Sinh năm 1991), Tạ Thanh T (Sinh năm 1991), Trần Đình G (Sinh năm 1991), Vũ Công Đ (Sinh năm 1989), Ngô Minh Qu (Sinh năm 1991),đều trú tại X, xã L, huyện T. Thời điểm Tuấn A đăng video lên nhóm thì trong nhóm có khoảng 2-3 người đăng nhập và xem những video do Tuấn A gửi (cụ thể là ai thì Tuấn A không nhớ và Cơ quan điều tra cũng không làm rõ được) khi Tuấn A đăng tải xong 03 video cũng là lúc chị P mặc xong quần áo thì Tuấn A cùng chị Hiền đưa P về nhà chị P tại Khu 2, xã H, huyện T. Khi về đến nhà thì có chị Phạm Thị L (là chị gái ruột của chị P) và chị Phạm P Tý (Sinh năm 2004, HKTT: khu 2, xã H, huyện T - là em gái họ của chị P) ở nhà. P đi vào nhà thì Tuấn A và chị Hiền đi về nhà Tuấn A. Tại phòng riêng của mình, Tuấn A đã đăng nhập vào ứng dụng Messenger trên chiếc điện thoại OPPO Zenno 6 rồi T hồi 03 video đã đăng tải lên "Team Bóng Chuyền X” lúc trước. Đến ngày 19/8/2022, chị P được chị Hoàng Thị K L (Sinh năm 2004, thường trú tại khu 9, xã H, huyện T) nói chuyện về việc nhiều người dân tại xã H, Bảo Yên, huyện T và các xã L, Tinh Nhuệ, huyện T đang lan truyền đoạn video Lê Công Tuấn A quan hệ tình dục với chị P trên mạng xã hội. Sau đó, chị P có liên lạc và thông tin cho Tuấn A biết việc clip bị lan truyền nên cùng ngày Tuấn A đã xoá bỏ nhóm chát “Team Bóng Chuyền X" do mình làm quản trị viên. Sự việc sau đó cũng được thông tin đến ông Phạm Cổng Giàu - là bố đẻ của chị P, khi đó đang đi làm ăn trong Miền Nam. Ông Giàu sau đó đã làm đơn tố giác hành vi vi phạm pháp luật của Tuấn A đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã T giữ các vật chứng gồm:

T giữ của Lê Công Tuấn A: 02 file video: JLP8663.MOV, thời lượng 01 phút

48

giây,

dung

lượng

5,37MB,

mã

MD5 8C7C78E60292420EB78377C31E08E77B (Kí hiệu: Al); NKTP8727.MOV, thời lượng 31 giây, dung lượng 144 MB. mã MD5: 8B40FEBE20879EA32C0014FFDOBA9942 (Kí hiệu A2), được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxell).

T giữ của Phạm Thị Hà P – sinh năm 2002, trú tại khu 19 xã H – huyện T: 03 file video: file 1.mp4 (thời lượng: 13 giây, dung lượng: 1,65 MB, mã MD5: 5D6CFF7C70BF6F54CB8C4014C60C10A6 (Kí hiệu A3); file 2.mp4, thời lượng 33 giây, dung lượng: 3,69 MB, mã MD5: BOD484 AE10995288DA131A72169DCE (Kí hiệu A4); file 3.mp4, thời lượng 01 phút 48

giây,

dung

lượng

5,77

MB,

mã

MD5: 0FEA8A21DFED9BF277FAAFB566B307FC (Kí hiệu A5) được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxell).

T giữ của Hoàng Thị T – sinh năm 1994, trú tại khu 22 xã H – huyện T: 02 file video gồm: 3671379508725 mp4, thời lượng 13 giây, dung lượng 1,65 MB, mã MD5: 6DBFDCB071663BEFD318D636E4CEC3FC (Kí hiệu A6); 3671379547884.mp4, thời lượng 33 giây, dung lượng 3,69 MB, mã MD5: E0487E48FCA91C6ED6A550EA83A9713A (Kí hiệu A7), được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxmax).

T giữ của Nguyễn K Hà, sinh năm 2006, trú tại khu 6 xã H – huyện T: 01 file video clip 13s.mp4, thời lượng 13 giây, dung lượng 1,65 MB, mã MD5: 6DBFDCB071663BEFD318D636E4CEC3FC (Ki hiệu A8), được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxmax); 01 file video: clip33S.mp4, thời lượng: 33 giây, dung lượng: 1,62 MB, mã MD5: 9A9D018B2CF0496A7A92630AD21FC243 (Kí hiệu A9) được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxmax); 01 file video: received_421174040109449.mp4, thời lượng 01 phút 48 giây, dung lượng: 5,55 MB, mã MD5: AE348DC9C2A5F6CE373F1B36CDABAD83 (Kí hiệu A10) được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxmax).

T giữ của ông Phạm Công Giàu: 04 file video gồm: VD1.mp4, thời lượng 33

giây,

dung

lượng

3,69

MB,

mã

MD5: E0487E48FCA91C6ED6A550EA83A9713A (Kí hiệu A11); VD2.mp, thời lượng 01 phút 48 giây, dung lượng: 5,82 MB, mã MD5: 39E73C80628818FB2100953407194D93 (Kí hiệu Al2); VD3.mp4, thời lượng: 13

giây,

dung

lượng

1.65

MB,

mã

MD5: 6DBFDCB071663BEFD318D636E4CEC3FC (Kí hiệu A13); VD4.mp4, thời lượng 33 giây, dung lượng 1,62 MB, mã MD5 9A9D018B2CF0496A7-92630AD2IFC243 (Kí hiệu A14) được lưu trong 01 USB (nhãn hiệu TOSHIBA);04 file video gồm: VD1.mp4, thời lượng 33 giây, dung lượng 3,69 MB, mã MD5:E0487E48FCA91C6ED6A550EA83A9713A (Kí hiệu A15); VD2.mp4, thời lượng 01 phút 48 giây, dung lượng 5,82 MB, mã MD5: 39E73C80628818FB2100953407194D93 (Kí hiệu A16); VD3.mp4, thời lượng 13

giây,

dung

lượng

1,65

MB,

mã

MD5: 6DBFDCB071663BEFD318D636E4CEC3FC (Kí hiệu A17); VD4.mp4,thời lượng

33

giây,

dung

lượng

1,62

MB,

mã

MD5: 9A9D018B2CF0496A7A92630AD21FC243 (Kí hiệu A18) được lưu trong đĩa DVD-R (nhãn hiệu Maxmax).

Ngày 25/08/2023, Cơ quan CSĐT- công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 180/QĐ-CQCSĐT, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tổn thương bộ phận sinh dục của chị Phạm T P và xác định xem chị P có thai hay không. Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 40 ngày 26/08/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:

“- Tổn thương bộ phận sinh dục của Phạm T P là: màng trinh rách cũ ở điểm 1 giờ, 3 giờ, 9 giờ; Hiện tại Phạm T P không có thai”.

Ngày 23/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 198, trưng cầuViện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định âm thanh, hình ảnh những video đã T giữ. Tại bản kết luận giám định số 6394 ngày 23/12/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

“- Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video kí hiệu "A1, A2, A5, A10, A12, A16".

- Không xác định được nội dung trong các video kí hiệu “A3, A4, A6, A7, A8, A9, A11, A13, A14, A15, A17, A18" có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không (do nội dung được ghi lại qua nội dung từ màn hình của thiết bị khác). Không giám định các câu hỏi trong trường hợp này.

Dung lượng trong các file video mẫu gửi giám định cụ thể trong bảng …

- Đã chuyển nội dung tiếng nói trong các file mẫu cần giám định thành văn bản (nội dung chi tiết được thể hiện trong bản dịch kèm theo)

- Không xác định được các file video T được từ các nguồn có phải là từ điện thoại Redmi Note 9S có số IMEI1: 863954040886735: IMEI2: 863954040951737 hay không.

- Tìm thấy dữ liệu video trong (02) hai điện thoại mẫu vật gửi giám định (nội dung chi tiết được lưu trong đĩa CD-R kèm theo)”.

Ngày 10/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 86 trưng cầu Sở văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh P giám định nội dung khiêu dâm, đồi truỵ đối với những video đã T giữ. Tại bản kết luận giám định ngày 24/5/2023 của Sở văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh P xác định Những video gửi đến giám định (Từ A1 đến A18) có nội dung khiêu dâm.

Ngày 03/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có công văn đề nghị Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và truyền thông đề nghị cung cấp thông tin về nhóm chat “Team Bóng Chuyền X”. Ngày 12/6/2024, Cục phát truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin có công văn trả lời: Ứng dụng Messenger là một ứng dụng phần mềm tin nhắn tức thời chia sẻ giao tiếp qua văn bản và file do công ty Meta (Meta Platforms, Inc) có trụ sở tại Hoa Kỳ phát triển, được tích hợp trên tính năng Chat của Facebook. Hiện tại, Facebook chưa có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chỉ hoạt động cung cấp thông tin công cộng xuyên biên giới vào Việt Nam. Theo chính sách của Facebook, các thông tin của người sử dụng (như: Tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, email, số điện thoại, tin nhắn, cuộc gọi...) được bảo mật. Vì vậy Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử không có thông tin, dữ liệu và không có biện pháp kỹ Tật phù hợp để xác định thông tin tài khoản Messenger.

Kết quả điều tra xác định: Lê Công Tuấn A đã có hành vi dùng điện thoại quay lại hình ảnh cởi quần áo, sờ mó, quan hệ tình dục với chị Phạm T P sau đó gửi vào nhóm chát Messenger gồm 09 thành viên, từ đó đã làm lộ các video ra ngoài và lan truyền trên mạng xã hội. Hành vi trên của Tuấn A đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của chị P.

Căn cứ hành vi phạm tội của Lê Công Tuấn A, ngày 07/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Tuấn A về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số52/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P đã quyết định:

Căn cứ: điểm e khoản 2 điều 155,Điểm b, i, s khoản 1 điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công Tuấn A 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội "Làm nhục người khác".

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 592, Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Bị cáo Lê Công Tuấn A phải bồi thường cho chị Phạm T P số tiền là 73.400.000đ (Bảy mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Xác nhận bị cáo Lê Công Tuấn A đã nộp số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) theo biên lai T tiền số: 0003525 ngày 06/9/2024 và Biên lai T tiền số: 0003514 ngày 23/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Buộc bị cáo Lê Công Tuấn A phải bồi thường cho chị Phạm T P số tiền còn lại là: 23.400.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 chị Phạm T P kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm đã quyết định hình phạt đối với bị cáo là nhẹ, đề nghị phải truy tố xét xử thêm đối với bị cáo về tội hiếp dâm.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị hại không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Việc cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Làm nhục người khác”. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là cố ý với mục đích làm nhục chị P, trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị P, gây cho chị P tâm lý hoang mang, hoảng sợ, ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại và tương lai của chị P nên cần xử phạt tù giam.

Hành vi quan hệ tình dục với chị P là hành vi phạm tội “Hiếp dâm” theo Điều 141 BLHS bởi lẽ: Thời điểm bị cáo phạm tội với chị P, chị P là người chưa thành niên, khi đó mới 17 tuổi, 9 tháng 1 ngày. Tình trạng của chị P khi đó say rượu, không ý thức được, không biết gì nên không đủ khả năng để tự vệ. Chị P say rượu thể hiện ở việc chị bị nôn, ở video do bị cáo đăng tải lên thể hiện khi bị cáo sờ mó, đụng chạm vào chị P thì chị P không có phản ứng gì, nằm im không biết gì, không phản ứng lại được với các hành vi của bị cáo. Việc bị cáo Tuấn A quan hệ tình dục với chị P là ngoài ý muốn của chị, nên đề nghị phải truy tố xét xử thêm tội “Hiếp dâm”.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu xem xét lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số:52/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị hại:

Về kháng cáo bỏ lọt tội Hiếp dâm:

Từ mối quan hệ quen biết Lê Công Tuấn A và chị Phạm T P có tình cảm nam nữ nhất định. Hai người đã có nhiều lần gặp nhau nhưng chưa thể hiện lời nói bằng việc xây dựng mối quan hệ tìm hiểu nam nữ. Tuy nhiên thông qua việc chị P đến nhà Tuấn A ăn cơm cùng gia đình, cùng với các lời nhắn qua Messenger sau ngày 16/7/2022 thể hiện hai người có tình cảm.

Khẳng định nếu Lê Công Tuấn A không phát tán video hình ảnh quan hệ tình dục với chị P thì chị P không tố cáo đối với bị cáo.

Chị P cho rằng bản thân bị say hoàn toàn không biết Lê Công Tuấn A quan hệ tình dục với mình lúc nào là không đúng, bởi lẽ: Căn cứ hình ảnh hai người quan hệ tình dục thì nhận thấy chị P vẫn nhận biết được hành vi của bị cáo. Việc chị P cho rằng khi bị quan hệ tình dục không biết là không logic trong toàn bộ diễn biến sự việc.

Về kháng cáo xét xử nhẹ:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và Tộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tự nguyện bồi thường. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, có nhân thân tốt, nên có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và hướng dẫn Nghị quyết số: 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân Tối cao.

Khung hình phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo là 02 năm tù (24 tháng), mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là 18 tháng tù là không nhẹ, nên không có cơ sở để tăng hình phạt đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P.

[2] Căn cứ: điểm e khoản 2 điều 155,Điểm b, i, s khoản 1 điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công Tuấn A 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội "Làm nhục người khác".

[3] Về bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 592, Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Bị cáo Lê Công Tuấn A phải bồi thường cho chị Phạm T P số tiền là 73.400.000đ (Bảy mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Xác nhận bị cáo Lê Công Tuấn A đã nộp số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) theo biên lai T tiền số: 0003525 ngày 06/9/2024 và Biên lai T tiền số: 0003514 ngày 23/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Buộc bị cáo Lê Công Tuấn A phải bồi thường cho chị Phạm T P số tiền còn lại là: 23.400.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 củaỦy ban thường vụ Quốc hội quyđịnh về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ