vanban.org

Bản án 81/2024/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty A về yêu cầu thanh toán tiền theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, Biên bản xác nhận công nợ ngày 02/4/2014 đối với bị đơn là Công ty B.

[2]. Buộc Công ty B phải thanh toán trả cho Công ty A tổng số tiền gốc là 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Bản án KDTM về Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty A và công ty B"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty A về yêu cầu thanh toán tiền theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, Biên bản xác nhận công nợ ngày 02/4/2014 đối với bị đơn là Công ty B.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 24 Luật Thương mại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/KDTM-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Ông Trần Đức Lưu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Đức Huy –Thư ký Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 83/2024/TLST-KDTM ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐST-HPT ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Công ty A ; Địa chỉ: Tổ X, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Đại diện theo pháp luật: Ông N.K.T – Chức vụ: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH M do ông L.Đ.V – Giám đốc đại diện theo pháp luật (Theo Giấy ủy quyền số 17/2023/UQ-MT ngày 18/12/2023); Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Bà N.T.A.N (Theo giấy ủy quyền số: 02/2024/UQ-MT ngày 01/6/2024).

*Bị đơn: Công ty B ; Địa chỉ: Tổ Y, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông T.T.V – Chức vụ: Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Bà N.T.L.H – Nhân viên phòng hành chính (Theo Giấy ủy quyền số 62/GUQ-XLHC-TCNS ngày 08/5/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà N.T.A.N trình bày:

Ngày 23/01/2008, Công ty A và Chi nhánh Công ty B - H34 (viết tắt là Chi nhánh H34) ký kết Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL (viết tắt là Hợp đồng số 01) về việc gia công chế tạo và vận chuyển kết cấu thép và ngày 03/3/2009, hai bên tiếp tục ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/2009/HKĐT/H34-MAK (viết tắt là Hợp đồng số 16) về việc gia công chế tạo hoàn chỉnh, cung cấp kết cấu thép, bản mã và các loại bu lông.

Theo các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng, Công ty A đã hoàn thành các công việc của mình, tuy nhiên, Chi nhánh H34 lại không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo nội dung cam kết. Vì vậy, Công ty A buộc phải khởi kiện để yêu cầu Công ty B thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.

Đối với Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã thực hiện đúng nội dung công việc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và đã gia công, chế tạo cho Chi nhánh H34 số lượng: 616.824 kg thép. Bao gồm: Kết cấu thép khung chính: 341.334 kg; Kết cấu thép sàn chính: 190.323 kg; Kết cấu thép cầu thang chính: 18.619 kg; Kết cấu thép cầu thang trung gian: 11.833 kg và Kết cấu thép sàn thao tác: 54.715 kg. Tương ứng với 616.824 kg thép là số tiền: 13.767.511.680 (Mười ba tỷ bảy trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm mười một nghìn sáu trăm tám mươi) đồng, thể hiện tại các hóa đơn giá trị gia tăng:

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0075174 ngày 29/09/2008, số tiền 6.544.223.120 (Sáu tỷ năm trăm bốn mươi tư triệu hai trăm hai mươi ba nghìn một trăm hai mươi) đồng;

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0075188 ngày 20/12/2008, số tiền 6.876.567.875 (Sáu tỷ tám trăm bảy mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng;

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000056 ngày 01/11/2011, số tiền 346.720.685 (Ba trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn sáu trăm tám mươi lăm) đồng.

Quá trình thực hiện, Chi nhánh H34 đã thanh toán được số tiền: 8.820.633.477 (Tám tỷ tám trăm hai mươi triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi bảy) đồng và còn nợ số tiền: 4.946.878.203 (Bốn tỷ chín trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm linh ba) đồng theo Bản đối chiếu công nợ ngày 02/4/2014.

Đối với Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009:

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã gia công và giao cho Chi nhánh H34 số lượng sản phẩm kết cấu thép tương đương số tiền là: 3.081.944.905 (Ba tỷ không trăm tám mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm linh năm) đồng, thể hiện tại các hóa đơn giá trị gia tăng:

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0097186 ngày 03/8/2009, số tiền 597.779.782 (Năm trăm chín mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi hai) đồng;

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0068336 ngày 31/12/2009, số tiền 1.353.420.378 (Một tỷ ba trăm năm mươi ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn ba trăm bảy mươi tám) đồng;

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0068346 ngày 02/4/2010, số tiền 342.863.769 (Ba trăm bốn mươi hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi chín) đồng;

- Hóa đơn giá trị gia tăng số 0090349 ngày 21/12/2010, số tiền 787.880.976 (Bảy trăm tám mươi bảy triệu tám trăm tám mươi nghìn chín trăm bảy mươi sáu) đồng.

Chi nhánh H34 đã thanh toán cho Công ty A số tiền là: 2.100.552.699 (Hai tỷ một trăm triệu năm trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm chín mươi chín) đồng và còn nợ số tiền: 981.392.206 (Chín trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi hai nghìn hai trăm linh sáu) đồng.

Ngày 02/4/2014, Công ty A và Chi nhánh H34 quyết toán và ký kết với nhau Biên bản xác nhận công nợ và đối chiếu chi tiết công nợ của Chi nhánh H34 theo từng hợp đồng. Theo đó, Chi nhánh H34 xác nhận còn nợ Công ty A số tiền là: 5.928.270.409 (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín) đồng, trong đó số tiền còn nợ theo Hợp đồng số 01 là: 4.946.878.203 (Bốn tỷ chín trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm linh ba) đồng và theo Hợp đồng số 16 là: 981.392.206 (Chín trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi hai nghìn hai trăm linh sáu) đồng.

Chi nhánh H34 là chi nhánh của Công ty B.

Nay Công ty A yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết:

1. Buộc Công ty B phải thanh toán cho Công ty A số tiền nợ gốc chưa thanh toán trong Hợp đồng số 01 là: 4.949.878.203 (Bốn tỷ chín trăm bốn mươi chín triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm linh ba) đồng;

2. Buộc Công ty B phải thanh toán cho Công ty A số tiền nợ gốc chưa thanh toán trong Hợp đồng số 16 là: 981.392.206 (Chín trăm tám mươi mốt triệu ba trăm chín mươi hai nghìn hai trăm linh sáu) đồng.

Tổng cộng Công ty B phải thanh toán cho Công ty A số tiền 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng).

Tại văn bản nêu ý kiến ngày 24/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty B do bà N.T.L.H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bị đơn xác nhận chi nhánh công ty B – H34 là chi nhánh hạch toán phụ thuộc của Công ty B.

Đồng thời bị đơn cũng xác nhận:

Ngày 23/01/2008, Chi nhánh H34 và Công ty A ký kết Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL về việc gia công chế tạo và vận chuyển kết cấu thép, theo đó Chi nhánh H34 đồng ý giao và Công ty A đồng ý nhận một phần khối lượng công việc “Chế tạo kết cấu thép - Tháp trao đổi thân nhiệt” Dự án mở rộng Nhà máy Xi măng Lam Thạch tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 03/3/2009, Chi nhánh H34 và Công ty A ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/HĐKT/H34-MAK về việc giao nhận phần việc “Gia công chế tạo hoàn chỉnh, cung cấp kết cấu thép, bản mã và các loại bu lông”, theo đó, Chi nhánh H34 đồng ý đặt hàng và Công tyA đồng ý nhận phần việc gia công chế tạo hoàn chỉnh, cung cấp kết cấu thép, bản mã và các loại bu lông.

Ngày 02/4/2014, Chi nhánh H34 và Công ty A ký kết Biên bản xác nhận công nợ, theo đó Chi nhánh H34 xác nhận còn nợ Công ty A theo các Hợp đồng số 01 và Hợp đồng số 16 tổng cộng là: 5.928.270.409 (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín) đồng.

Từ thời điểm đó đến nay, các bên không đề cập đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, và không có bất kỳ văn bản nào liên quan đến công nợ nêu trên.

Nay Công ty A khởi kiện ra tòa yêu cầu bị đơn có trách nhiệm hoàn trả số tiền 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng). Chúng tôi mong muốn Nguyên đơn tạo điều kiện cho chúng tôi trả dần mỗi tháng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vì hiện nay công ty đang gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh dẫn đến mất khả năng trả nợ.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở trên và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:ơ

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Các Điều 50, 55, 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty B phải thanh toán tiền nợ gốc cho Công ty A theo theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, Biên bản xác nhận công nợ ngày 02/4/2014, số tiền là 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng). Về lãi, nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên bị đơn chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty A khởi kiện yêu cầu Công ty B phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa. Công ty B có trụ sở tại địa chỉ: Tổ Y, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, Hội đồng xét xử nhận thấy: Để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty A và chi nhánh công ty B – H34 (là chi nhánh của Công ty B ) đã ký kết các Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009.

Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận nội dung hợp đồng và quá trình thực hiện hợp đồng Công ty A đã nhiều lần giao hàng cho Công ty B. Ngày 02/4/2014, hai bên ký với nhau biên bản xác nhận công nợ, theo đó chi nhánh công ty B – H34 xác nhận còn nợ Công ty A số tiền là 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng).

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, Công ty B còn nợ Công ty A tổng số tiền 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng). Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty A phải thanh toán trả số tiền gốc trên là có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu tính lãi: Do nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong bản án.

. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty B phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho Công ty A là: 113.928.270 (Một trăm mười ba triệu chín trăm hai mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi) đồng.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ các nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 24; Điều 50; Điều 55; Điều 306 Luật Thương mại;

- Áp dụng Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 2, Điều 6; Điều 7; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

- Áp dụng Khoản 4, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng Luật Phí và lệ phí năm 2015;

Xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty A về yêu cầu thanh toán tiền theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐ-GCCT/H34-MAKSTEEL ngày 23/01/2008 và Hợp đồng số 16/2009/HKĐT/H34-MAK ngày 03/3/2009, Biên bản xác nhận công nợ ngày 02/4/2014 đối với bị đơn là Công ty B.

[2]. Buộc Công ty B phải thanh toán trả cho Công ty A tổng số tiền gốc là 5.928.270.409 đồng (Năm tỷ chín trăm hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn bốn trăm linh chín đồng) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

[3].Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty B phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 113.928.270 (Một trăm mười ba triệu chín trăm hai mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi) đồng.

Công ty A không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Công ty A số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030055 ngày 15/5/2024 của Cơ quan thi hành án dân sự quận Ba Đình là: 56.964.135 (Năm mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn một trăm ba mươi lăm) đồng.

[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ