- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Kiều phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày 29 - 10 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đàm Văn K
2. Ông Lê Đức Chạc
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2021, đối với:
+ Bị cáo Lại Văn K - Sinh năm 1985, tại tỉnh N.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn Q, huyện N, tỉnh N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; con ông Lại Năng Viên sinh năm 1955 và bà Đào Thị Ngoan sinh năm 1960, cả hai đều đang ở tổ dân phố 2, thị trấn Q, huyện N, tỉnh N; gia đình có 03 anh em, K là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị Thu Huệ sinh năm 1989, hiện đang ở tổ dân phố 2, thị trấn Q, huyện N, tỉnh N; có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lại Văn K đầu thú, tạm giữ từ ngày 21/7/2021 đến ngày 30/7/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
+ Bị hại: Công ty Cổ phần xây dựng Hợp Lực. Địa chỉ: B8, BT 04, KĐT mới V, đường N, phường G, quận L, thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần xây dựng H. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Ngọc T là ông Đồng Văn H sinh năm 1983 - Giám đốc dự án. Nơi cư trú: KĐT Đ, xã T, huyện T, thành phố H. Địa chỉ: Đội 12, xã N, huyện N, tỉnh N. (văn bản ủy quyền lập ngày 18/7/2021).
+ Người làm chứng:
1. Anh Vũ Văn Đ - Sinh năm 1987 Địa chỉ: Xóm 10, xã N, huyện N, tỉnh N.
2. Anh Nguyễn Văn S - Sinh năm 1986 Địa chỉ: Đội 12, xã N, huyện N, tỉnh N
3. Anh Trần Văn Th - Sinh năm 1981 Địa chỉ: Xã D, huyện D, tỉnh N.
Tại phiên toà có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại và những người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 3 đến tháng 6/2021, Lại Văn K được Công ty cổ phần xây dựng H thuê làm lái xe ô tô tải chở vật liệu xây dựng cho Công trình xây dựng Nhà máy may xuất khẩu S tại xã N nên K biết vị trí đặt téc dầu Diesel của Công ty. Sau khi nghỉ việc, K đã nảy sinh ý định trộm cắp dầu Diesel bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 23 giờ, ngày 18/7/2021, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BEST sơn màu xanh đen, biển số 18S2-2719 kéo theo xe ba bánh tự chế bằng sắt chở 02 thùng phi; 01 máy bơm tăng áp; 01 ắc quy; 01 thang tre; 01 đôi ủng màu xanh cùng 02 đoạn dây điện màu vàng, 05 đoạn ống nhựa mềm, 01 tô vít, 01 kìm, 01 kéo, 01 mỏ lết và 01 cuộn băng dính màu đen đến đường dong thuộc đội 15 xã Nghĩa Phong, mục đích để trộm cắp dầu Diesel tại khu vực lán tự chế nơi cung cấp nhiên liệu cho máy móc đang thi công trong Công trình xây dựng. Khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 19/7/2021, K đi đôi ủng màu xanh mang theo ắc quy, thang tre, dây điện, ống nhựa mềm, máy tăng áp, tô vít, kìm, kéo, mỏ lết, băng dính màu đen đi qua cầu tạm bằng luồng để qua mương tiêu nước đến chân tường bao phía bắc Công trình, dùng thang tre trèo lên tường bao để quan sát, thấy không có người, K trèo qua tường bao vào sân Công trình, đi đến vị trí téc dầu Diesel. K mở nắp phía Nam của téc dầu, đặt máy bơm tăng áp lên trên nắp téc dầu, rồi dùng tô vít, mỏ lết, kìm đấu nối một đầu máy bơm tăng áp với 01 đoạn ống nhựa mềm màu xanh lam có gắn đầu lọc bằng kim loại cắm trực tiếp vào trong téc dầu Diesel của Công trình, đầu còn lại nối với các đoạn ống nhựa mềm màu xanh lam và ống nhựa mềm màu trắng để dẫn dầu đưa ra ngoài. K dùng kéo, băng dính màu đen cắt gọt dây điện đấu nối từ máy bơm tăng áp kéo dây điện cùng ống nhựa mềm qua tường bao. Ống nhựa mềm, K kéo qua mương tiêu nước cắm ống nhựa mềm vào thùng phi đang đặt trên xe ba bánh tự chế ở đường dong, còn dây điện, K dùng băng dính màu đen đấu nối và cố định dây điện với hai cực của ắc quy đặt ở chân tường bao để máy bơm tăng áp hoạt động hút dầu từ téc dầu qua các đoạn ống nhựa mềm ra thùng phi. Trong lúc đợi dầu chảy vào thùng phi, K đứng trên thang tre để cảnh giới, nếu có bảo vệ của Công trình đi đến thì rút dây điện từ ắc quy để máy tăng áp dừng hoạt động. Khi thấy dầu ở thùng phi thứ nhất gần đầy, K đưa ống nhựa mềm sang thùng phi thứ hai để dầu tiếp tục chảy vào thùng phi. Khi K đang thực hiện hành vi trộm cắp dầu của Công trình thì bị anh Vũ Văn Đ, anh Nguyễn Văn S và anh Trần Văn Th là cán bộ quản lý công trình phát hiện. K đã bỏ lại toàn bộ công cụ, phương tiện phạm tội tại hiện trường và điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Ngày 19/7/2021 anh Đồng Văn H là giám đốc dự án Công ty cổ phần xây dựng H có đơn trình báo Công an xã N và Công an xã N chuyển đến Công an huyện N điều tra, xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 xe ba bánh tự chế bằng sắt; 01 thùng phi sơn màu xanh lam-trắng, thân thùng có chữ Petrolimex, đường kính 60 cm, chiều cao 90 cm, trong thùng phi có chứa 191 lít dầu (niêm phong ký hiệu M1); 01 thùng phi sơn màu xanh lá cây- trắng, thân thùng có chữ Castrol, đường kính 60 cm, chiều cao 90 cm, trong thùng phi chứa 43 lít dầu (niêm phong ký hiệu M2); 01 máy bơm tăng áp nhãn hiệu JAOMA có đấu nối với 01 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 1,6 mét, đường kính 3 cm, đầu ống nhựa có gắn đầu lọc bằng kim loại; 02 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 6,3 mét và 17 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 18,7 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây dài 1,8 mét, đường kính 2 cm; 02 đoạn dây điện màu vàng dài 3,75 mét và 23 mét; 01 ắc quy hình hộp chữ nhật, thân bình có chữ GS, kích thước 53x23x23 cm; 01 thang tre dài 3,45 mét; 01 tô vít bốn cạnh dài 30 cm; 01 mỏ lết trên thân có chữ FORGED STEEL dài 30 cm; 01 kéo sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 14 cm; 01 kìm sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 18 cm; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đôi ủng màu xanh, đế màu vàng. Cơ quan điều tra Công an huyện đã trích lấy mẫu ở mỗi thùng phi có chứa dầu trộm cắp 500ml đựng trong chai nhựa màu trắng, niêm phong ký hiệu M1; M2 để trưng cầu giám định. Ngày 21/7/2021, Lại Văn K đến Công an huyện Nghĩa Hưng đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản của mình ngày 19/7/2021 tại Công trình xây dựng Nhà máy may xuất khẩu Sông Hồng và tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu BEST, sơn màu xanh đen, biển số 18S2-2719, để điều tra, xử lý.
Tại bản kết luận giám định số: 1040/GĐKTHS ngày 26/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất lỏng màu vàng trong 02 chai nhựa màu trắng, dung tích mỗi chai 500ml, được niêm phong ký hiệu M1; M2 gửi giám định đều là dầu Diesel. Tại bản kết luận số: 09/HĐ-ĐGTS ngày 27/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá trị của 234 lít dầu Diesel là 3.945.240 đồng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Lại Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 74/CT-VKS ngày 07/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt Lại Văn K từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 máy bơm tăng áp nhãn hiệu JAOMA có đấu nối với 01 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 1,6 mét, đường kính 3 cm, đầu ống nhựa có gắn đầu lọc bằng kim loại; Tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 6,3 mét và 17 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 18,7 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây dài 1,8 mét, đường kính 2 cm; 02 đoạn dây điện màu vàng dài 3,75 mét và 23 mét; 01 thang tre dài 3,45 mét; 01 tô vít 4 cạnh dài 30 cm; 01 mỏ lết trên thân có chữ FORGED STEEL dài 30 cm; 01 kéo sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 14 cm; 01 kìm sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 18 cm; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đôi ủng màu xanh. Đề nghị áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6; 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhu cáo trạng đã nêu và bị cáo nói lời sau cùng đã thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại, người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy có cơ sở xác định: Khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 19/7/2021, tại khu vực lán tự chế nơi cung cấp nhiên liệu cho máy móc đang thi công trong Công trình xây dựng Nhà máy may xuất khẩu S ở đội 15, xã N, huyện N, Lại Văn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 234 lít dầu Diesel có giá trị là 3.945.240 đồng của Công ty cổ phần xây dựng Hợp Lực. Hành vi bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức, là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc trộm cắp dầu của Công ty cổ phần xây dựng Hợp Lực là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; bố đẻ bị cáo là ông Lại Năng Viên có thành tích phục vụ trong quân đội, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly tập chung cải tạo đối với bị cáo mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là người có điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 02 chai nhựa màu trắng bên trong có chứa dầu Diesel do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định và 233 lít dầu Diesel là số dầu K trộm cắp được của Công ty cổ phần xây dựng Hợp Lực, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng đã trả lại cho Công ty cổ phần xây dựng Hợp Lực phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu BEST, sơn màu xanh đen, biển số 18S2- 2719, đã qua sử dụng; 01 xe kéo ba bánh tự chế bằng sắt; 01 thùng phi sơn màu xanh lam-trắng, thân thùng có chữ Petrolimex, đường kính 60 cm, chiều cao 90 cm; 01 thùng phi sơn màu xanh lá cây- trắng, thân thùng có chữ Castrol, đường kính 60 cm, chiều cao 90 cm; 01 ắc quy hình hộp chữ nhật, thân bình có chữ GS; qua điều tra xác định là tài sản K mượn của anh Lại Văn Trang là em trai K. Anh Trang không biết việc K mượn những tài sản trên để sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Nghĩa Hưng đã trả lại cho anh Lại Văn Trang là phù hợp.
Đối với 01 máy bơm tăng áp nhãn hiệu JAOMA có đấu nối với 01 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 1,6 mét, đường kính 3 cm, đầu ống nhựa có gắn đầu lọc bằng kim loại, là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo và bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
Đối với 02 đoạn ống nhựa mềm màu xanh lam dài 6,3 mét và 17 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa mềm màu trắng dài 18,7 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây dài 1,8 mét, đường kính 2 cm; 02 đoạn dây điện màu vàng dài 3,75 mét và 23 mét; 01 thang tre dài 3,45 mét; 01 tô vít 4 cạnh dài 30 cm; 01 mỏ lết trên thân có chữ FORGED STEEL dài 30 cm; 01 kéo sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 14 cm; 01 kìm sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 18 cm; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đôi ủng màu xanh là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo và bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nhưng giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo Lại Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc xử lý vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lại Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lại Văn K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án, ngày 29 tháng 10 năm 2021 (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 21/7/2021 đến ngày 30/7/2021).
Giao bị cáo Lại Văn K cho UBND thị trấn Q, huyện N, tỉnh N nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo Lại Văn K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 máy bơm tăng áp nhãn hiệu JAOMA có đấu nối với 01 đoạn ống nhựa màu xanh lam dài 1,6 mét, đường kính 3 cm, đầu ống nhựa có gắn đầu lọc bằng kim loại.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn ống nhựa mềm màu xanh lam dài 6,3 mét và 17 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa mềm màu trắng dài 18,7 mét, đường kính 2 cm; 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây dài 1,8 mét, đường kính 2 cm; 02 đoạn dây điện màu vàng dài 3,75 mét và 23 mét; 01 thang tre dài 3,45 mét; 01 tô vít 4 cạnh dài 30 cm; 01 mỏ lết trên thân có chữ FORGED STEEL dài 30 cm; 01 kéo sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 14 cm; 01 kìm sắt phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ dài 18 cm; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đôi ủng màu xanh, đế màu vàng.
Toàn bộ vật chứng vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sư huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sư huyện N và Công an huyện N ngày 11/10/2021.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6; 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lại Văn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho người có
mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh N; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS h N; - Trại giam + CA; - UBND thị trấn Qt; - Cơ quan Thi hành án; - Án văn + lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Xuân Dũng |