vanban.org

Bản án 81/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thách G - Vũ Thị Phương T"
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 81/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18/12/2018
V/v tranh chÊp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quốc Tuấn;

2. Bà Lê Thu Trà.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 18 tháng 12 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 261/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2018 gi÷a c¸c ® ¬ng sù:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thạch G, sinh năm 1985, có mặt.

§Þa chØ: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

2. BÞ ®¬n: Chị Vũ Thị Phương T, sinh năm 1986, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Y, thÞ x· §, tØnh Qu¶ng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Thạch G trình bày có nội dung:

Về tình trạng hôn nhân: Anh (Nguyễn Thạch G) và chị Vũ Thị Phương T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng Quế, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày 12/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã được gia đình động viên hòa giải nhiều nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2016 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, nếu tiếp tục kéo dài không thể đem lại hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn chị Vũ Thị Phương T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Vũ Thị Phương T không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án, mặc dù đều nhận được Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hợp lệ của Tòa án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Thạch G giữ nguyên quan điểm như đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn chị Vũ Thị Phương T.

Tại phiên tòa bị đơn chị Vũ Thị Phương T vắng mặt không lý do, mặc dù đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều nhận định:

. Về trình tự thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình số: 261/2018/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2018, giữa nguyên đơn anh Nguyễn Thạch G với bị đơn chị Vũ Thị Phương T là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập bị đơn chị Vũ Thị Phương T lần thứ hai, nhưng đều vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được tống đạt và niêm yết theo đúng thủ tục tố tụng dân sự. Cho nên, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Hôn nhân của anh Nguyễn Thạch G và chị Vũ Thị Phương T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể khắc phục được. Mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2016 đến nay. Tại biên bản làm việc ngày 08/11/2018, ông Vũ Văn V là bố đẻ của chị T đã xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh G và chị T đã kéo dài và sống ly thân mỗi người một nơi, vợ chồng không có con chung, chị T hiện về sống cùng với gia đình ông tại thôn T, xã Y, thị xã Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không có mặt để tham gia gia tố tụng tại Tòa án. Cho nên, xác định chị T cũng không có nguyện vọng tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành để về đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh G và chị T đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, nếu đời sống hôn nhân tiếp tục kéo dài sẽ không có hạnh phúc. Cho nên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh G theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về án phí: Anh Nguyễn Thạch G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

V× c¸c lÏ trªn,

quyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Anh Nguyễn Thạch G được ly hôn chị Vũ Thị Phương T.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Thạch G phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003321 ngày 05/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều.

3. Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Thạch G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Chị Vũ Thị P Thảo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ