- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Kim Y phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Kim Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 -HƯNG YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 80/2026/HS-ST Ngày 20 tháng 5 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Dũng-Cán bộ hưu trí xã Quang Hưng, tỉnh Hưng Yên.
Bà Nguyễn Thị Quyên-Chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc xã Quang Hưng, tỉnh Hưng Yên.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng là thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1-Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn-Kiểm sát viên-Phó viện trưởng.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2026/TLST-HS ngày 24 háng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:
Vũ Kim Y, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: thôn B, xã T, tỉnh H.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M (đã chết) và bà Lê Thị Thanh T chồng: Hoàng Văn Th (đã chết); con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; số CMND/CCCD/Hộ chiếu: 033193012316.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 11/11/2025, bị Công an xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 19/11/2025, bị Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú.
Bị tạm giữ từ ngày 21/12/2025 đến ngày 23/12/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Vũ Thị H, sinh năm 1978-Vắng mặt.
Tên gọi khác : Màu.
Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh H.
Anh Vũ Như H1, sinh năm 1974-Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh H.
Anh Trần Tùng D, sinh năm 2001-Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh H.
Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950-Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh H.
Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1985-Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn H, xã TT, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2025, Công an xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên kiểm tra hành chính nhà của Vũ Kim Y, sinh năm 1993 tại Thôn B, xã T, tỉnh H là đối tượng thuộc diện quản lý sử dụng trái phép chất ma túy thì phát hiện Y cùng Vũ Thị H, sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã T, tỉnh H (chị họ Y), Trần Tùng D, sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã T, tỉnh H và Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, trú tại thôn H, xã TT, tỉnh H đang có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, Y tự nguyện giao nộp 01 chai nhựa trong suốt cao 15cm, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp có gắn 02 ống hút nhựa, trong đó có 01 ống hút được gắn nhiều ống hút có tổng chiều dài 84cm, một ống hút có đầu cong được quấn 01 mảnh giấy bạc trên đầu ống có bám dính chất bột màu trắng, phần còn lại ở trong chai nhựa dài 13cm (được niêm phong ký hiệu MT1); 02 mảnh giấy bạc có chiều dài 21,5cm, chiều rộng 02cm (được niêm phong ký hiệu MT2); 01 mảnh giấy bạc có chiều dài 21,5cm, chiều rộng 02cm (được niêm phong ký hiệu MT3); 04 túi nilon trong suốt đều có kích thước (2,5x2,5)cm, trong đó có 03 túi nilon bám dính chất bột kết tinh màu trắng và 01 túi nilon bám dính chất bột màu hồng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu MT4).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Kim Y tại thôn B, xã T, tỉnh H. Kết quả khám xét:
- Thu tại vị trí gần cửa ra vào phòng ngủ tầng 2 của Vũ Kim Y:
+ 05 ống hút nhựa có các màu gồm: trắng, vàng, xanh, cam và hồng, đều có chiều dài 28cm (Chưa qua sử dụng).
+ 02 chiếc bật lửa gas, màu đỏ.
+ 03 đoạn ống hút nhựa có màu tím, màu xanh và màu vàng, đều có chiều dài 12cm, một đầu được quấn giấy bạc dài 2,5cm.
- Thu tại vị trí dưới chăn phía cuối giường kê trong phòng ngủ tầng 2 đối diện phòng ngủ của Vũ Kim Y 02 đoạn giấy bạc có chiều dài 22cm, chiều rộng 2,5cm.
- Quá trình khám xét, Trần Tùng D giao nộp 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu tím đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, năm số hàng cuối trên sim là 33640; Vũ Thị H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 5846; Vũ Kim Y giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, mặt trước của điện thoại bị vỡ, nứt; bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 3528.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giờ ngày 17/12/2025, Vũ Thị H đến nhà Vũ Kim Y chơi, Y và H ngồi chơi điện thoại tại sập gỗ trong phòng ngủ tầng 2, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Vũ Như H1, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã T, tỉnh H (anh ruột H) đến, H2 lên tầng hai thì gặp Y và H, thấy H2 đến, Y nói “anh chị có chơi không”, ý rủ H và H2 sử dụng ma túy thì H và H2 đồng ý. Y ra kệ gỗ trong phòng ngủ lấy 01 chai nhựa trong suốt có cắm các ống hút do Y tự chế từ trước và 01 túi nilon có mép cài viền màu xanh, bên trong túi có 04 viên ma túy, loại Hồng Phiến rồi để tất cả ở sập gỗ. Tiếp đó Y đi xuống bếp lấy 01 mảnh giấy bạc dài khoảng một gang tay, rộng khoảng 02cm mang lên phòng ngủ để làm máng, Y lấy 02 viên hồng phiến trong túi nilon cho vào mảnh giấy bạc và mời H2 sử dụng trước. H2 cầm ống hút được cắm vào chai nhựa cho vào miệng, còn Y đưa máng bằng giấy bạc có 02 viên hồng phiến sát vào đầu ống hút còn lại rồi dùng bật lửa gas có sẵn trong phòng hơ giấy bạc cho khói bay lên để H2 hút vào cơ thể. Sau khi H2 hút xong thì Y làm lại động tác tương tự để H sử dụng, sau đó đến Y sử dụng. H2, H, Y mỗi người sử dụng 02 vòng thì hết 02 viên hồng phiến. Y tiếp tục cho nốt 02 viên hồng phiến vào máng giấy bạc rồi châm lửa lần lượt cho H2, H và Y sử dụng hết 01 viên thì dừng lại, không sử dụng nữa, H2 đi về nhà, còn H và Y vẫn ngồi ở phòng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Tùng D đến nhà Y chơi, thấy phòng của Y có chai nhựa và giấy bạc còn bám dính chất bột màu trắng, D biết đó là ma túy tổng hợp loại hồng phiến nên bảo với Y “em rũ ống nhé” ý D muốn sử dụng ma túy còn bám dính ở đầu ống hút thì Y đồng ý và chỉ cho D chỗ để bình hút và máng giấy bạc vẫn còn 01 viên hồng phiến chưa sử dụng hết để cho D sử dụng rồi Y về phòng ngủ, ít phút sau thì H cũng về nhà, còn D mang chai nhựa và máng giấy bạc có 01 viên hồng phiến lên sập gỗ hơ lửa một mình sử dụng hết, đến gần sáng ngày 18/12/2025 thì D về nhà. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2025, khi Y, H, D và M đang ngồi chơi tại nhà Y thì lực lượng công an kiểm tra, phát hiện.
Tại bản kết luận giám định số 2068 ngày 23/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận:
- Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 02 ống hút nhựa trong niêm phong ghi ký hiệu MT1, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất màu đen bám dính trên 02 mảnh giấy bạc màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT2, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất màu đen bám dính trên 01 mảnh giấy bạc màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT3, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong lòng 03 túi nilon màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT4, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất dạng bột màu hồng bám dính trong lòng 01 (một) túi nilon màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT4, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Tại bản Kết luận giám định số 3944/KL-KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Vũ Thị H, sinh năm 1978, HKTT tại thôn B, xã T, tỉnh H (bên trong chai nhựa ký hiệu HUYEN) và mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, HKTT tại thôn Hoàng Xá, xã Tiên Tiến, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu M) gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine; Morphin và 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine.
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Vũ Kim Y, sinh năm 1993, HKTT: Ba Hàng, Tân Hưng, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu YEN) và mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Tùng D, sinh năm 2001, HKTT: Lam Sơn, xã Tiên Lữ, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu DUONG) gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Có tìm thấy chất Methaphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Vũ Như H1 được niêm phong ký hiệu NT gửi giám định.
Nguồn gốc số ma túy, Y trình bày mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 16/12/2025 tại thôn An Viên, xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên. Do đó, không có căn cứ để xác M, xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho Y.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 17/12/2025 của Vũ Kim Y, Y không trong diện cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện. Y trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy nên không xem xét xử lý Y về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Thị H, Trần Tùng D và Vũ Như H1. H, D và H2 đều không trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nên Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Hưng Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, D và H2 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn M. Tại biên bản vụ việc M trình bày ngày 19/12/2025 M mua Heroine của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ sau đó đến khu vực mương nước để sử dụng sau đó đến nhà Y chơi. M không sử dụng ma túy tại nhà Y. M không trong diện cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện; không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi sự việc xảy ra M đã bỏ đi khỏi địa phương. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên có công văn số 536 ngày 30/3/2026 gửi đến Công an xã Tiên Tiến, tỉnh Hưng Yên để xác M, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu tím đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, năm số hàng cuối trên sim là 33640 của Trần Tùng D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 5846 của Vũ Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại cho D và H 02 chiếc điện thoại trên. D và H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì.
01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 2068/KL – KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong 01 chai nhựa, 02 đoạn ống hút, 03 mảnh giấy bạc màu trắng, 04 vỏ túi nilon màu trắng và 04 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định;
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, mặt trước của điện thoại bị vỡ, nứt; bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 3528 được niêm phong ký hiệu S.
05 (năm) chiếc ống hút nhựa các màu trắng, vàng, xanh, cam và hồng, đều có chiều dài đo được 28cm; 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 03 đoạn ống hút nhựa có màu tím, màu xanh và màu vàng dài 12cm, một đầu được quấn giấy bạc, dài 2,5cm; 02 đoạn giấy bạc dài 22cm, rộng 2,5cm.
Hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên chờ xử lý.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Kim Y thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS-KV1 ngày 23/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đã truy tố bị cáo Vũ Kim Y về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhất trí với Kết luận giám định về ma túy không thắc mắc gì. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Kim Y về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và có quan điểm đề nghị: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Vũ Kim Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Y từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2025.
Bị cáo là người sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, mặt trước của điện thoại bị vỡ, nứt; bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 3528 được niêm phong ký hiệu S.
Tịch thu cho tiêu hủy mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định và các vật chứng liên quan đến tội phạm, gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 2068/KL – KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong 01 chai nhựa, 02 đoạn ống hút, 03 mảnh giấy bạc màu trắng, 04 vỏ túi nilon màu trắng và 04 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định;
05 (năm) chiếc ống hút nhựa các màu trắng, vàng, xanh, cam và hồng, đều có chiều dài đo được 28cm; 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 03 đoạn ống hút nhựa có màu tím, màu xanh và màu vàng dài 12cm, một đầu được quấn giấy bạc, dài 2,5cm; 02 đoạn giấy bạc dài 22cm, rộng 2,5cm.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác không xem xét.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 22 giờ ngày 17/12/2025, tại nơi ở của Vũ Kim Y ở thôn B, xã T, tỉnh H, Vũ Kim Y đã cung cấp ma túy, loại là methamphetamine, công cụ sử dụng ma túy, chế ma túy để cho Vũ Thị H và Vũ Như H1 sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Tùng D đến nhà Y chơi, Y tiếp tục cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy để D sử dụng.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2025, Công an xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên kiểm tra hành chính nơi ở của Vũ Kim Y tại thôn B, xã T, tỉnh H thì phát hiện Y cùng Vũ Thị H, Trần Tùng D và Nguyễn Văn M đang có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, Y tự nguyện giao nộp 01 chai nhựa trong suốt cao 15cm, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp có gắn 02 ống hút nhựa, trong đó có 01 ống hút được gắn nhiều ống hút có tổng chiều dài 84cm, một ống hút có đầu cong được quấn 01 mảnh giấy bạc trên đầu ống có bám dính chất bột màu trắng, phần còn lại ở trong chai nhựa dài 13cm (được niêm phong ký hiệu MT1); 02 mảnh giấy bạc có chiều dài 21,5cm, chiều rộng 02cm (được niêm phong ký hiệu MT2); 01 mảnh giấy bạc có chiều dài 21,5cm, chiều rộng 02cm (được niêm phong ký hiệu MT3); 04 túi nilon trong suốt đều có kích thước (2,5x2,5)cm, trong đó có 03 túi nilon bám dính chất bột kết tinh màu trắng và 01 túi nilon bám dính chất bột màu hồng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu MT4).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Kim Y tại thôn B, xã T, tỉnh H. Kết quả khám xét:
- Thu tại vị trí gần cửa ra vào phòng ngủ tầng 2 của Vũ Kim Y:
+ 05 ống hút nhựa có các màu gồm: trắng, vàng, xanh, cam và hồng, đều có chiều dài 28cm (Chưa qua sử dụng).
+ 02 chiếc bật lửa gas, màu đỏ.
+ 03 đoạn ống hút nhựa có màu tím, màu xanh và màu vàng, đều có chiều dài 12cm, một đầu được quấn giấy bạc dài 2,5cm.
- Thu tại vị trí dưới chăn phía cuối giường kê trong phòng ngủ tầng 2 đối diện phòng ngủ của Vũ Kim Y 02 đoạn giấy bạc có chiều dài 22cm, chiều rộng 2,5cm.
- Quá trình khám xét, Trần Tùng D giao nộp 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu tím đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, năm số hàng cuối trên sim là 33640; Vũ Thị H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 5846; Vũ Kim Y giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh đen, mặt trước của điện thoại bị vỡ, nứt; bên trong có lắp một sim liên lạc, bốn số hàng cuối trên sim là 3528.
Tại bản kết luận giám định số 2068 ngày 23/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận:
- Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 02 ống hút nhựa trong niêm phong ghi ký hiệu MT1, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất màu đen bám dính trên 02 mảnh giấy bạc màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT2, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất màu đen bám dính trên 01 mảnh giấy bạc màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT3, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong lòng 03 túi nilon màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT4, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
+ Chất dạng bột màu hồng bám dính trong lòng 01 (một) túi nilon màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu MT4, là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Tại bản Kết luận giám định số 3944/KL-KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Vũ Thị H, sinh năm 1978, HKTT tại thôn B, xã T, tỉnh H (bên trong chai nhựa ký hiệu HUYEN) và mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, HKTT tại thôn Hoàng Xá, xã Tiên Tiến, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu M) gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine; Morphin và 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine.
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Vũ Kim Y, sinh năm 1993, HKTT: Ba Hàng, Tân Hưng, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu YEN) và mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Tùng D, sinh năm 2001, HKTT: Lam Sơn, xã Tiên Lữ, Hưng Yên (bên trong chai nhựa ký hiệu DUONG) gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Có tìm thấy chất Methaphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Vũ Như H1 được niêm phong ký hiệu NT gửi giám định.
Nguồn gốc số ma túy, Y trình bày mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 16/12/2025 tại thôn An Viên, xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên. Do đó, không có căn cứ để xác M, xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho Y.
. Cơ quan điều tra công an tỉnh Hưng Yên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật không có vi phạm gì.
. Căn cứ các chứng cứ đã thu thập thì có căn cứ xác định:
Bị cáo là người sử dụng ma túy, số ma túy bị cáo sử dụng và cung cấp cho người khác sử dụng bị cáo khai mua của một người không biết tên tuổi, địa chỉ và đã sử dụng hết. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác chứng M bị cáo đã mua ma túy của ai. Vũ Thị H, Vũ Như H1, Trần Tùng D đều khai nhận ma túy sử dụng, công cụ sử dụng ma túy là của bị cáo và đã sử dụng đã sử dụng ma túy tại nơi ở của bị cáo. Do vậy, căn cứ lời khai của bị cáo, người liên quan, vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ khác của vụ án thì có căn cứ xác định bị cáo Y đã sử dụng nơi ở của mình, cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy, dùng bật lửa hơ ma túy cho H, H2 sử dụng vào khoảng 23 giờ ngày 17/12/2025, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho D sử dụng vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/12/2025. Loại ma túy bị cáo cung cấp cho H, H2, D sử dụng là Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự. Bị cáo tổ chức sử dụng ma túy 02 lần, một lần đối với 02 người, một lần đối với 01 người. Với hành vi phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, số người, số lần bị cáo tổ chức để sử dụng ma túy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đã truy tố bị cáo Y về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu nhưng là phụ nữ, có bốn con còn nhỏ, là người sử dụng ma túy, do vậy cần có mức hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Bị cáo là người sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định vì vậy không phạt bổ sung với bị cáo. Vì vậy quan điểm đề nghị về mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
. Người bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo khai không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm cụ thể của những người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành xác M nhưng không có đủ chứng cứ nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.
. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Kim Y, Vũ Thị H, Vũ Như H1, Trần Tùng D nhưng không trong diện cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện. Y trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy nên không xem xét xử lý Y, H, H2, D về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Nguyễn Văn M không sử dụng ma túy tại nhà Y, không trong diện cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện; không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi sự việc xảy ra M đã bỏ đi khỏi địa phương. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên có công văn số 536 ngày 30/3/2026 gửi đến Công an xã Tiên Tiến, tỉnh Hưng Yên để xác M, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
. Vật chứng của vụ án:
01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE của Trần Tùng D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG của Vũ Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại cho D và H 02 chiếc điện thoại là phù hợp.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (Niêm phong ký hiệu S) của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
Mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là ma túy và các vật chứng liên quan đến việc sử dụng ma túy sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
. Các vấn đề khác hội đồng xét xử không xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Vũ Kim Y.
Tuyên bố bị cáo Vũ Kim Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Kim Y: 07(bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2025.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Vũ Kim Y 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi.
Tịch thu cho tiêu hủy mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định và các vật chứng liên quan đến tội phạm, gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 2068/KL – KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong 01 chai nhựa, 02 đoạn ống hút, 03 mảnh giấy bạc màu trắng, 04 vỏ túi nilon màu trắng và 04 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định;
05 (năm) chiếc ống hút nhựa các màu trắng, vàng, xanh, cam và hồng, đều có chiều dài đo được 28cm; 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 03 đoạn ống hút nhựa có màu tím, màu xanh và màu vàng dài 12cm, một đầu được quấn giấy bạc, dài 2,5cm; 02 đoạn giấy bạc dài 22cm, rộng 2,5cm.
Tình trạng vật chứng thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2026 và đang được quản lý tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1-Hưng Yên.
Về án phí: Áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Kim Y phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Các vấn đề khác Hội đồng xét xử không xét.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSNDtỉnh Hưng Yên; - VKSNDkhu vực 1- Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Thi Hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo,người tham gia tố tụng; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |