vanban.org

Bản án 80/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 07/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chính N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 26/5/2021). Phạt tiền bị cáo 05 (năm) triệu đồng sung quĩ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chính N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Chính N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2021/HSST
Ngày 07/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thế Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thái-Cán bộ hưu;

2. Ông Nguyễn Văn Chấn-Cán bộ hưu,

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2021/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chính N, sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; bố đẻ: Nguyễn Chính H, sinh năm 1961 (Đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; Bị cáo có 03 anh em ruột, bản thân là con thứ hai trong gia đình; họ và tên vợ: Hoàng Thị V, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 159/QĐ-XPHC ngày 14-7-2021 của Công an huyện L xử phạt bị cáo 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 26/5/2021, tạm giam từ ngày 29/5/2021 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Ng, sinh năm 1993, trú quán tại thôn Th, xã L2, huyện S, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 35 phút ngày 26/5/2021, tại nhà ở của Nguyễn Chính N, tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã V kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng gồm: Nguyễn Chính N, Mã Văn H, Đào Văn Th, Hoàng Thị Ng đang có hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại chiếc chiếu cói trong phòng ngủ nhà Nguyễn Chính N, nơi các đối tượng đang ngồi 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), 01 chai thủy tinh có nắp chai màu đen, bên trên nắp chai gắn một đoạn ống hút nhựa màu đen trắng; 01 coóng thủy tinh đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); Thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải của Nguyễn Chính N 01 ví da màu nâu, bên trong đựng số tiền 2.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chính N (BL: 16-17). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và 01 coóng thủy tinh đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) vào phong bì thư ký hiệu "QT" gửi giám định (BL: 22).

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Chính N tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan (BL 27).

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 16 giờ ngày 25/5/2021, Nguyễn Chính N một mình đi xe mô tô đến khu vực ngã tư truyền hình thuộc thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mua của một người đàn ông (N khai không biết tên tuổi, địa chỉ ) 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh, bên trong chứa ma túy với giá 300.000 đồng, mục đích là để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó, N đem túi nilon đựng ma túy vừa mua được về nhà và đổ ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại N cất lại vào ví.

Khoảng 17 giờ ngày 25/5/2021, Đào Văn Th (là bạn của N) đến nhà của Nguyễn Chính N chơi và ngủ lại tại đây. Khoảng 14 giờ 25 phút ngày 26/5/2021, khi N đang ở phòng ngủ của N cùng với Th thì có Mã Văn H và Hoàng Thị Ng (H và Ng quen biết và chơi với nhau) đến. Do H và N quen biết nhau từ trước và H biết N có ma túy để bán nên khi gặp N, H giới thiệu Ng với N và bảo với N là “anh lấy hộ chị em 300.000 đồng tiền đồ”, N hiểu ý H hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy thì N trả lời “anh không đi lấy được, anh còn một ít để lại cho mày” (BL: 117). Sau đó, H và Ng đi vào trong phòng ngủ của N ngồi xuống chiếu đợi thì gặp Th đang ngồi ở đây, còn N đi lấy túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh, bên trong chứa ma túy để trong ví da rồi về phòng ngủ. Lúc này, H bảo với Ng là “chị trả tiền cho anh ấy, em không có tiền”, Ng lấy ra số tiền 400.000 đồng trả cho N, trong đó 300.000 đồng là tiền mua ma túy còn 100.000 đồng Ng nhờ N nạp tiền điện thoại giúp. N cầm tiền cất vào ví rồi đưa túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh, bên trong chứa ma túy cho Ng. Ng bỏ số ma túy vừa mua của N ra cóong thủy tinh có sẵn ở trên chiếu để sử dụng nhưng không được nên đã nhờ N đổ ma túy vào coóng thủy tỉnh để sử dụng. Khi N, Ng, Th, H đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã V kiểm tra, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật như đã nêu ở trên (BL: 92-93; 98-99; 105-106; 116-117).

Tại bản Kết luận số 894/KL-KTHS ngày 28/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và đường viền màu xanh trong phong bì thư ký hiệu "QT" là ma túy, có khối lượng 0,006 gam, loại Methamphetamine

- Chất tinh thể màu trắng đục đựng trong 01 coóng thủy tinh trong phong bì thư ký hiệu "QT" là ma túy, có khối lượng 0,092 gam, loại Methamphetamine (BL 36).

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N ở khu vực ngã tư truyền hình thuộc thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, N không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Trong vụ án này, Ng sau khi mua ma túy của Nguyễn Chính N, Ng tự ý cùng N, Th, H (đều là đối tượng nghiện ma túy) sử dụng ma túy tại phòng ngủ căn nhà của N đang ở. Kết quả điều tra làm rõ căn nhà nơi N đang ở thuộc quyền sở hữu của hộ ông Nguyễn Chính H, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960 (là bố mẹ đẻ của N) (BL: 54-55), nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với N về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" là có căn cứ. Bà L1 không biết N sử dụng căn nhà của bà làm nơi bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với Mã Văn H có hành vi giới thiệu và hỏi mua ma túy của N giúp Hoàng Thị Ng để sử dụng, quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy mà Ng mua của N và tàng trữ là 0,098 gam ma túy Methamphetamine. Mặt khác, H và Ng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chưa bị kết án về các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của H và Ng chưa cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 14/7/2021, Công an huyện L ra quyết định xử phạt hành chính đối với H và Ng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là có căn cứ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nhanh chất ma túy của N, H, Ng, Th, kết quả: Những người này đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Ngày 14/7/2021, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và Th về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" (BL 66-67).

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư ký hiệu “QT” do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 chai thủy tinh có nắp chai màu đen, bên trên nắp chai gắn một đoạn ống hút nhựa màu đen trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chính N, 01 ví da màu nâu; số tiền 2.100.000 đồng, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Chính N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Nguyễn Chính N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác nhận Cáo trạng truy tố bị cáo không oan sai. Ngoài ra bị cáo còn trình bày: Bị cáo bị nghiện ma túy, nên bị cáo đã lên thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn mua của người không quen biết 300.000 đồng để sử dụng. Ngày 26/5/2021 có anh H và chị Ng vào nhà bị cáo hỏi mua ma túy, bị cáo đã bán cho Ng số ma túy hôm trước mua tại Lục Ngạn giá 300.000 đồng, chị Ng đưa cho bị có 400.000 đồng, trong đó có 300.000 đồng tiền bán ma túy và 100.000 đồng chị Ng nhờ bị cáo nạp thẻ điện thoại hộ. Bị cáo đã đưa ma túy cho chị Ng; chị Ng và anh H bỏ ma túy ra sử dụng tại nhà bị cáo, đang sử dụng thì bị bắt.

* Chị Hoàng Thị Ng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng chị Ng có lời khai tại giai đoạn điều tra như sau: Đầu giờ chiều ngày 26/5/2021 anh H đưa chị đến nhà bị cáo N để mua ma túy, chị mua 300.000 đồng, N đưa cho chị một gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa ma túy, chị bỏ ra để sử dụng tại nhà N thì bị bắt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử bị cáo Nguyễn Chính N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 26/5/2021).

Phạt tiền bị cáo 5 triệu đồng sung công quĩ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 chai thủy tinh có nắp chai màu đen, bên trên nắp chai gắn một đoạn ống hút nhựa màu đen trắng và 01 ví da màu nâu.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.

Trả lại bị cáo Nguyễn Chính N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chính N, 1.800.000 đồng. Nhưng tạm giữ lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng và 1.800.000 đồng để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo tranh luận đối đáp: Không tranh luận đối đáp gì với luận tội của Viện kiểm sát.

- Kết thúc tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề ghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án giao giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử; Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người vắng mặt trong quá trình hỏi tại phiên tòa.

Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.

Đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chính N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 14 giờ 35 phút ngày 26/5/2021, tại phòng ngủ của Nguyễn Chính N, Nguyễn Chính N có hành vi bán trái phép 0,098 gam ma túy Methamphetamine cho Hoàng Thị Ng thì bị Tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy Bản Cáo trạng số: 69/CT-VKS ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Chính N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương. Methamphetamine là chất ma túy, gây nguy hại cho người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh con người và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo chỉ vì động cơ, mục đích lợi ích cá nhân đã cố ý phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Do đó, phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với bị cáo.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 159/QĐ-XPHC ngày 14-7-2021 của Công an huyện Lục Nam xử phạt bị cáo 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi phạm tội, bị cáo đã bị xử phạt hành chính, quyết định xử phạt hành chính không xác định là tiền sự, nhưng cũng thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét thấy cần phạt tù giam và có hình phạt tù phù hợp với hành vi của bị cáo mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Do bị cáo đang bị tạm giam. Nên cần áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang là tang vật của vụ án; 01 chai thủy tinh có nắp chai màu đen, bên trên nắp chai gắn một đoạn ống hút nhựa màu đen trắng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch tiêu hủy. 01 ví da màu nâu không có giá trị sử dụng cũng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Hoàng Thị Ng cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chính N và số tiền 1.800.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo Nguyễn Chính N. Nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động và 1.800.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N ở khu vực ngã tư truyền hình thuộc thị trấn Ch, huyện L1, tỉnh Bắc Giang. Do N không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này và quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người đã bán ma túy cho N nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Hoàng Thị Ng sau khi mua ma túy của Nguyễn Chính N, Ng tự ý cùng N, Th, H (đều là đối tượng nghiện ma túy) sử dụng ma túy tại phòng ngủ căn nhà của N đang ở. Kết quả điều tra làm rõ căn nhà nơi N đang ở thuộc quyền sở hữu của hộ ông Nguyễn Chính H, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960 (là bố mẹ đẻ của N) (BL: 54-55), nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với N về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" là có căn cứ. Bà L1 không biết N sử dụng căn nhà của bà làm nơi bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với Mã Văn H có hành vi giới thiệu và hỏi mua ma túy của N giúp Hoàng Thị Ng để sử dụng, quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy mà Ng mua của N và tàng trữ là 0,098 gam ma túy Methamphetamine. Mặt khác, H và Ng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chưa bị kết án về các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của H và Ng chưa cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 14/7/2021, Công an huyện L ra quyết định xử phạt hành chính đối với H và Ng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nhanh chất ma túy của N, H, Ng, Th, kết quả đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Ngày 14/7/2021, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và Th về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chính N phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292, Điều 293, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chính N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 26/5/2021).

Phạt tiền bị cáo 05 (năm) triệu đồng sung quĩ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 chai thủy tinh có nắp chai màu đen, bên trên nắp chai gắn một đoạn ống hút nhựa màu đen trắng; 01 ví da màu nâu.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

- Trả lại bị cáo Nguyễn Chính N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; số tiền 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng). Nhưng được tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Trả lại bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chính N;

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 7a và 9 Lụât Thi hành án dân sự; Thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan văng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ