- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truong Minh Chi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2018/HS-ST. Ngày 31-10-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Hoài Hiêm;
Ông Nguyễn Xuân Lãm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Trương Minh C, sinh năm 1983, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Trương Thị L; có vợ (đã ly hôn) và 02 con; Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2018 đến nay; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 02/9/2018, Trương Minh C đi đến khu vực xã G, huyện Đ, tỉnh Long An mua 02 bịch chất ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông tên T (không rõ địa chỉ) rồi đem về nhà cất giấu để sử dụng. Vào lúc 00 giờ 45 phút ngày 03/9/2018, công an huyện T tiến hành kiểm tra, bắt quả tang C tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà thuộc ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vật chứng thu giữ: 02 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt và một số vật chứng có liên quan.
Tại Kết luận giám định số 1139/KL-KTHS ngày 07/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 02 bịch nylon được bịt kín là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1427 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của
mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Trương Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Minh C từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật;
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với những chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 03/9/2018, Trương Minh C tàng trữ trái phép 0,1427 gam chất ma túy tên gọi Methamphetamine tại nhà thuộc ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh để sử dụng đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Trương Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trương Minh C, Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Riêng người đàn ông tên “T” đã bán ma túy cho C hiện không rõ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra cần tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với một bì thư được niêm phong vụ số 1139/KL-KTHS (kí hiệu M) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi M, sau giám định bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,0908 gam là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng có một đầu bằng, một đầu nhọn; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu; 01 bật lửa màu xanh; 01 bật lửa màu đỏ; 02 bịch nylon trong suốt có một đầu kín và một đầu hở, bên trong rỗng; 01 bình nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, trên nắp có gắng một ống hút nhựa màu vàng trắng và một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu là công cụ sử dụng ma túy không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2018.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư được niêm phong vụ số 1139/KL-KTHS (kí hiệu M) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N và trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi M, sau giám định bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,0908 gam.
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu vàng có một đầu bằng, một đầu nhọn; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dạng phễu; 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 02 (hai) bịch nylon trong suốt có một đầu kín và một đầu hở, bên trong rỗng; 01 (một) bình nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, trên nắp có gắng một ống hút nhựa màu vàng trắng và một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Minh C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Tây Ninh; - VKS H. Trảng Bàng; - Chi cục THADS H. Trảng Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trưởng |