vanban.org

Bản án 80/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 12/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NQT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

phạt bị cáo NQT 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt quả tang 12/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Tiền - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NQT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÆNH BAÏC LIEÂU
Bản án số: 80/2017/HS-ST
Ngày 12 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B-TỈNH BẠC LIÊU

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Khưu Liên Dung.

2. Ông Nguyễn Đức Hòa.

* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Minh Tâm, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2017/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: NQT (Tên gọi khác: T), sinh năm 1992 tại Bạc Liêu; Trú tại: khóm A, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Khóm C, phường D, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông: NQA (sinh năm 1963) và bà HTMH (sinh năm 1965); Chưa có vợ con. Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 10/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố B kết án 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2016; Bắt quả tang ngày 12/6/2017; Tạm giữ ngày 13/6/2017; Tạm giam ngày 15/6/2017; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

- Người bị hại:

1. Anh ĐHN sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp TN, xã VH, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.

Tạm trú: khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

2. Anh PHN, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp Đ, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Tạm trú: khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN THẤY:

Bị cáo NQT bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu truy tố về hành vi như sau:

NQT có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản.

Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2017, NQT điều khiển xe mô tô nhãn hiện VMEP SANDA, loại Wave Anpha, màu Xanh, có biển kiểm soát số 71B1-887.51, chạy đến trước cửa nhà trọ số khóm E, phường B, thành phố B quan sát không thấy người nên NQT đã lấy trộm 02 chiếc quần Jeans ống ngắn của anh ĐHN, 04 cái quần Jeans ống ngắn và 08 cái áo sơ mi dài tay của anh PHN đang phơi trên sào thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 15/6/2017 kết luận: 06 cái quần Jeans ống ngắn và 08 cái áo sơ mi dài tay có giá trị là 1.937.500đ.

Tại Bản Cáo trạng số 88/KSĐT-SH ngày 21/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo NQT về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại biên bản lấy lời khai của bị hại PHN trình bày: Khoảng 10 giờ 30 phút, khi anh đang ở trong phòng trọ số 07 thì nghe anh N chủ nhà trọ báo là bị cáo NQT lấy 04 cái quần Jean ngắn và 08 cái áo sơ mi dài tay của anh, khi đó những đồ vật của anh đang nằm dưới đất.

Tại biên bản lấy lời khai của bị hại ĐHN trình bày: Khoảng 11 giờ, khi anh đi ra ngoài thì nghe bạn gái anh ở chung tại phòng trọ số 18 điện báo là có kẻ trộm vào lấy 02 quần Jean ngắn của anh đang phơi trên sào.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo NQT từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Bị cáo NQT đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát số 71B1-887.51 đến nhà trọ khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhân lúc mọi người không chú ý, bị cáo lén lút lấy trộm 06 quần Jean ngắn loại quần Nam và 08 áo sơ mi dài tay loại áo Nam đang phơi trên sào trước cửa phòng trọ số 7 và 18, tổng giá trị tài sản mà bị cáo NQT chiếm đoạt của anh PHN và anh ĐPN là 1.937.500đ, thì bị phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật vào lúc khoảng 11 giờ 10 phút ngày 12/6/2017.

Bị cáo NQT là người đã trưởng thành, có thể chất tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, am hiểu lẽ sống xã hội, nhận thức được pháp luật, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Mặc dù bị cáo NQT đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Nhưng vì nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu bản thân, đã thôi thúc bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp. Chính hành vi lén lút, dịch chuyển tài sản ra khỏi nơi quản lý của chủ sở hữu, đã thể hiện thái độ lỗi cố ý trực tiếp của bị cáo.

Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo thực hiện làm cho nhân dân lo lắng, không an tâm trong sinh hoạt đời sống, ảnh hưởng trật tự trị an địa phương, bị pháp luật hình sự quy định là Tội phạm.

Lời khai của người bị hại thống nhất với lời khai của bị cáo về tài sản mất trộm, thời gian diễn ra vụ án.

Số tiền bị cáo chiếm đoạt chỉ có 1.937.500đ, do bị cáo đã có tiền án nên có đủ cơ sở kết luận: bị cáo NQT là người có tội, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản này là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với thực tế khách quan, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

Tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Song, bị cáo cũng đã thật thà thành khẩn khai báo, tài sản mất trộm đã thu hồi và trao trao trả cho bị hại xong thuộc trường hợp chưa gây ra thiệt hại, được quy định tại Điểm p, g Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo NQT bị bắt quả tang ngày 12/6/2017, nhưng đến ngày 13/6/2017 bị cáo NQT mới có lệnh tạm giữ. Như vậy, bị cáo NQT đã bị tạm giữ theo tố tụng hình sự hết một ngày. Do đó, một ngày bị bắt quả tang này sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Về vật chứng:

01 xe mô tô, mang biển kiểm soát số 71B1-887-51 bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Được xác định là tài sản của bà HTMH, bà HTMH cho bị cáo mượn xe không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, cơ quan điều tra đã giao trả cho bà HTMH xong.

Về dân sự: Tài sản bị mất trộm đã thu hồi và trao trả cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì khác, nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo NQT bị kết tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo NQT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Tuyên phạt:

Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Xử

phạt bị cáo NQT 09 (Chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt quả tang 12/6/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bị cáo NQT phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/9/2017). Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ