- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế B - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1) Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế B 24 (Hai bốn) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 190 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1/6 TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 799/2021/HS-PT Ngày: 25-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Nhã và ông Trần Đức Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/11/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 692/2021/TLPT-HS ngày 04/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 634/2021/QĐXXPT-HS ngày 25/10/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2021/HSPT-QĐ ngày 04/11/2021 đối với bị cáo Nguyễn Thế B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2021/HS-ST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân quận BL, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: NGUYỄN THẾ B, sinh năm 1998; giới tính: Nam; ĐKNKTT và trú tại: Tổ 22, phường BL, quận BL, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngũ V và bà Mai Thị Ngọc T; tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Ngày 12/02/2015, Tòa án nhân dân quận BL ra Quyết định số 01/2015/QĐST-HS đình chỉ vụ án “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo do bị hại rút yêu cầu khởi tố; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Quách Văn N không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
2/6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo: Anh Hoàng Đức P, sinh năm 2004; ĐKNKTT và trú tại: Số 10, tổ 13, phường Thạch Bàn, quận BL, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 20/01/2021, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an quận BL, thành phố Hà Nội đã kiểm tra, phát hiện và bắt giữ 02 vụ vận chuyển thuốc lá nhập lậu, cụ thể:
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 20/01/2021 tại cửa nhà số 199/35/34 đường BK, tổ 7, phường BL, Công an quận BL, thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt giữ Quách Văn N điều khiển xe môtô Honda Dream II, biển kiểm soát 29-N6-3294 chở theo 03 thùng catton, mỗi thùng chứa 50 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD (10 bao/cây), tổng cộng là 1.500 bao; 01 điện thoại di động OPPO A1K. Tại Bản kết luận giám định số 986 ngày 26/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “1.500 bao thuốc lá (mỗi bao 20 điếu) nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất”.
Khoảng 16 giờ ngày 20/01/2021 tại cửa nhà số 07, ngõ 38 phố TĐ, phường BL, Công an quận BL phát hiện và bắt giữ Hoàng Đức P điều khiển xe môtô Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 29-A1-777.24 chở 02 thùng catton bọc kín, bên trong mỗi thùng có 50 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD. Ngoài ra, Hoàng Đức P còn tự giao nộp 385 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD, 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 ORIGINAL để trong phòng trọ; tổng cộng thu giữ của Hoàng Đức P 1915 bao thuốc lá điếu các loại (1385 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD, 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 ORIGINAL), 01 điện thoại iPhoneX. Tại Bản kết luận giám định số 967 ngày 26/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “1385 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD và 30 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO 555 ORIGINAL đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất”.
Tại Cơ quan điều tra, Quách Văn N và Hoàng Đức P khai vận chuyển thuốc lá thuê cho Nguyễn Thế B. Các bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 06/2020, Thế B lên mạng internet tìm kiếm các nguồn cung cấp thuốc lá ngoại, tìm mối
3/6
bán và thuê Hoàng Đức P, Quách Văn N vận chuyển đi giao hàng cho khách. Khoảng tháng 06/2020, Thế B thuê 01 phòng trọ (1.500.000 đồng/01 tháng) tại địa chỉ số 07 ngõ 38 phố TĐ, phường BL, quận BL để Đức P ở và làm kho tập kết hàng. Kể từ tháng 10-11/2020 cho đến nay, N và P đã chở thuê cho Thế B nhiều lần (Thông tin về người gửi hàng, nơi nhận hàng, khách mua hàng do Thế B cung cấp; đến nay không nhớ). Tiền công vận chuyển trong địa bàn quận BL là 50.000 đồng/01 chuyến; sang các quận, huyện khác, tùy quãng đường mà trả từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng/01 chuyến. N và P không biết gì về nhau, hoạt động độc lập không trao đổi, nói chuyện gì với nhau về việc chở thuê hàng cho Thế B.
Khoảng tháng 12/2020 qua mạng internet, Thế B làm quen với người tên là Tuấn và biết anh ta có thuốc lá ba số ngoại bán nên đã đặt mua của anh ta vài ba lần nhưng chưa gặp mặt trực tiếp. Mọi việc hai bên liên hệ qua ứng dụng tin nhắn điện thoại. Ngày 18/01/2021, Thế B mua 02 thùng thuốc lá ba số ngoại nhưng Tuấn báo thiếu 01 thùng, chỉ chuyển trả 01 thùng và hẹn lần sau sẽ trả nốt. Ngày 19/01/2021, Thế B chuyển 22.950.000 đồng thanh toán mua 03 thùng thuốc lá ba số ngoại của Tuấn (02 thùng ngày 18/01/2021 và 01 thùng trước đó Thế B nợ của Tuấn). Đến ngày 20/01/2021, Thế B đặt mua 04 thùng thuốc lá ba số ngoại của Tuấn với giá là 153.000 đồng/01 cây và đã chuyển tổng cộng số tiền phải thanh toán là 30.600.000 đồng cho Tuấn qua tài khoản 03501014998778, mở tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2021, Thế B gọi bảo Đức P liên hệ với số điện thoại 0766059876 của Tuấn để nhận hàng; sau đó nhắn tin cho N đi nhận hàng do Tuấn giao. N đến trước, P đến sau, khi đến đã thấy một người đàn ông đi xe môtô, mặc áo xe ôm Grab, bịt khẩu trang, đứng chờ sẵn; N nhận 03 thùng catton mang lên xe của mình để chở về thì bị kiểm tra bắt giữ; P đến sau nhận 02 thùng hàng chở về đến cửa phòng trọ bị cũng bị Công an quận BL kiểm tra bắt giữ. Không liên lạc được với P và N nên Thế B đã gọi và được Tuấn cho biết đã trả nốt 01 thùng thuốc lá ba số ngoại, tổng cộng là 05 thùng thuốc lá điếu ba số hiệu BLEND NO 555 GOLD. Thế B đoán là P và N đã bị cơ quan Công an bắt giữ nên đã bỏ trốn, vứt hết máy và sim điện thoại nhằm tránh bị phát hiện.
4/6
Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2021/HS-ST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân quận BL, thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế B 30 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; xử phạt Quách Văn N 12 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/6/2021, bị cáo Nguyễn Thế B kháng cáo đề nghị được giảm hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333; 334; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo về hình thức; về nội dung, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế B, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế B 30 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Nguyễn Thế B có đơn kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
Về nội dung: Ngày 20/01/2021 tại địa bàn phường BL, quận BL, Nguyễn Thế B đã mua tổng cộng 2.915 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc nhằm để bán (2.885 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD và 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO 555 ORIGINAL). Sau đó, Thế B thuê Quách Văn N vận chuyển 1.500 bao thuốc lá nhãn hiệu BLEND NO 555 GOLD; thuê Hoàng Đức
5/6
P cất giữ, vận chuyển 1415 bao BLEND NO 555 GOLD và BLEND NO 555 ORIGINAL mang bán thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của Nguyễn Thế B bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Buôn bán hàng cấm” thuộc trường hợp “Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội trong quản lý thị trường; xâm phạm chế độ quản lý, sản xuất, kinh doanh và thuế của Nhà nước; bị cáo là người phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù đối với bị cáo là đúng. Xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự đã xóa nên được coi là chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; vai trò, thái độ và nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hình phạt 30 tháng tù đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên chấp nhận một phần kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Nguyễn Thế B kháng cáo được chấp nhận nên không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế B, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:
1.1) Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế B 24 (Hai bốn) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
1.2) Bị cáo Nguyễn Thế B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
6/6
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Quách Văn N; về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - TT Lý lịch tư pháp QG - Bộ Tư pháp; - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - TAND quận BL; - VKSND quận BL; - Công an quận BL; - THADS quận BL; - UBND phường BL, quận BL, Hà Nội; - Bị cáo; - Người có liên quan đến kháng cáo; - Lưu HS, VT. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Hà |