vanban.org

Bản án 79/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 30/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng G phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên phạt bị cáo Lâm Hoàng G 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lâm Hoàng G phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Hoàng G - Tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng G phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2026/HS-ST
Ngày: 30 – 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Thanh Chiều.

Bà Phạm Thị Bích Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Lâm Hoàng G (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 15/7/2000 tại xã N, thành phố Cần Thơ. Số căn cước công dân: 094200009365, cấp ngày 14/8/2022. Nơi cấp: Cục C-Bộ C1. Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ; chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn N và bà Lâm Thị Thanh T; anh chị em: Có 03 người (bị cáo thứ ba); có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 11/8/2022, bị Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 32/2022/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/4/2025); tiền sự: Không có.

Bị cáo bị khởi tố ngày 23/9/2025 và áp dụng biện pháp ngăn chặn“Tạm giam” từ ngày 25/9/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Lê Kim H, sinh năm 2002. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 23/7/2025, trong lúc uống rượu cùng với Nguyễn Lê Kim H, sinh ngày 04/8/2002, nơi thường trú: Khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai và đối tượng Lâm Văn T1, sinh ngày 16/9/1990, nơi thường trú: ấp X, xã H, thành phố Cần Thơ tại nhà của bà Lâm Thị H1 thuộc ấp X, xã H, thành phố Cần Thơ thì bị cáo Lâm Hoàng G, sinh ngày 15/7/2000, nơi thường trú: ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ (nơi ở hiện tại: ấp X, xã H, thành phố Cần Thơ) nói “lúc này có ma túy đá chơi chắc sướng lắm”, nhưng T1 và H không nói gì. Sau đó, bị cáo G mượn xe mô tô của người thanh niên tên Mô Đ (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) rồi điều khiển xe chạy đến dốc cầu K, thuộc phường S, thành phố Cần Thơ gặp đối tượng tên “Chó Con” mua 200.000 đồng ma túy đá, mua xong bị cáo điều khiển xe chạy về nhà, trên đường về thì bị cáo gặp người thanh niên tên P (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) đang đi đường nên bị cáo hỏi mượn P cái nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy, thì P đồng ý và lấy cho bị cáo mượn. Sau đó, bị cáo tiếp tục điều khiển xe về nhà bà Lâm Thị H1. Khi về đến nhà, bị cáo đi ra phần đất trống bên hông nhà lấy chai nhựa nhãn hiệu Sting, ống hút và nỏ thủy tinh gắn lại với nhau làm thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi cắt bịch ma túy ra và đổ một phần ma túy vào nỏ thủy tinh (số ma túy còn lại bị cáo cất giữ để sử dụng riêng), sau đó bị cáo rủ H và T1 đi ra bên hông nhà sử dụng ma túy thì T1 và H đồng ý, lúc này bị cáo dùng bật lửa đốt ma túy lên và hút trước, rồi cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho T1 và H hút, cả nhóm sử dụng xoay vòng cho đến khi hết số ma túy lấy ra. Sử dụng ma túy xong, bị cáo, T1 và H đi vào nhà ngủ, sau đó lực lượng Công an xã H đến mời bị cáo, T1, H về cơ quan làm việc. Qua test nhanh, bị cáo Lâm Hoàng G, Lâm Văn T1, Nguyễn Lê Kim H dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:

- 01 (một) gói nylon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu (ký hiệu M1)

- 01 (một) chai nhựa được quấn băng keo màu đen, có nắp màu vàng, trên nắp được gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa (ký hiệu M2)

- 01 (một) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng (ký hiệu M3).

Tại Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận:

- Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0546 gam.

- Nỏ thủy tinh (Mẫu M2) có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng của chất ma túy.

- Nỏ thủy tinh (Mẫu M3) có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng của chất ma túy.

Các vật chứng nêu trên, hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Tại bản Cáo trạng số 40A/CT-VKSCTO-KV ngày 15/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lâm Hoàng G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Hoàng G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Hoàng G mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và mức án đến 03 năm đến 03 năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đồng thời đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói nylon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu, qua giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,0546 gam; 01 (một) chai nhựa được quấn băng keo màu đen, có nắp màu vàng, trên nắp được gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lâm Hoàng G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị cáo không có ý kiến trong phần tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Lê Kim H vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của chị H không gây cản trở cho việc xét xử, cơ quan điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của chị H nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Lê Kim H.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Hoàng G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vào khoảng hơn 15 giờ ngày 23/7/2025 bị cáo Lâm Hoàng G có hành vi lấy chai nhựa nhãn hiệu Sting, ống hút và nỏ thủy tinh gắn lại với nhau làm thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi cắt bịch ma túy của bị cáo đã mua trước đó; bị cáo lấy một phần ma tuý đổ vào nỏ thủy tinh, sau đó bị cáo rủ Nguyễn Lê Kim H và Lâm Văn T1 đi ra phần đất trống bên hông nhà bà Lâm Thị H1 thuộc ấp X, xã H, thành phố Cần Thơ để sử dụng ma túy, lúc này bị cáo dùng bật lửa đốt ma túy lên và hút trước, rồi cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho T1 và H hút, cả ba người sử dụng xoay vòng cho đến khi hết phần ma túy mà bị cáo đỗ ra; riêng đối với phần ma tuý còn dư lại bị cáo tiếp tục cất giữ để cá nhân sử dụng riêng qua giám định là loại Methamphetamine, khối lượng 0,0546 gam. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là phạm tội đối với 02 người trở lên. Đối với lượng ma tuý Methamphetamine bị cáo giữ lại để sử dụng riêng mặc dù có khối lượng 0,0546 gam chưa đủ định lượng nhưng trước đó bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích nên hành vi của bị cáo còn cấu thành thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Bị cáo Lâm Hoàng G là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo biết rõ chất ma tuý là chất kích thích và gây ức chế hệ thần kinh, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây nghiện và một khi đã nghiện chất ma tuý thì có nhiều khả năng gây ra các tệ nạn xã hội như bị lây truyền bệnh HIV, trộm cắp, cướp giật tài sản…, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo vẫn bất chấp tác hại của ma túy mà vẫn thực hiện hành vi tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi do bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền án về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xoá. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói nylon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu, qua giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,0546 gam; 01 (một) chai nhựa được quấn băng keo màu đen, có nắp màu vàng, trên nắp được gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

. Đối với người thanh niên có tên “Chó Con”, người thanh niên tên P và người thanh niên tên Mô Đa: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, qua đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của đối tượng Nguyễn Lê Kim H: Quá trình điều tra xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển xử lý hành chính là có căn cứ đúng theo quy định.

. Đối với đối tượng Lâm Văn T1: Quá trình điều tra đối tượng Tuy đã chết do bệnh lý, nên không đặt ra xem xét xử lý.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lâm Hoàng G phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng như đã phân tích nêu trong phần nội dung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 292; Điều 299; Điều 326; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1/ Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng G phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên phạt bị cáo Lâm Hoàng G 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lâm Hoàng G phải chấp hành hình phạt chung của hai tội danh là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/9/2025.

2/ Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) gói nylon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu, qua giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,0546 gam; 01 (một) chai nhựa được quấn băng keo màu đen, có nắp màu vàng, trên nắp được gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

3/ Về án phí: Bị cáo Lâm Hoàng G phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và 72 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ