vanban.org

Bản án 79/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật H nh sự xử phạt: Phạm Quốc A 07 (bẩy) n m 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy.

C n cứ điểm a c khoản 1 Điều 47 Bộ luật H nh sự; điểm a b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự: Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy c n lại sau giám định đựng trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT/PC09; 01 thẻ nhựa; sim số 0914.284.468 và 02 vỏ túi nilon kích thước 2cm x 3c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Anh - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật H nh sự xử phạt: Phạm Quốc A 07 (bẩy) n m 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
──────────────────

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST
Ngày 19-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Mung Ông Nguyễn Anh Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư k Toà án nhân dân uận Hải An thành phố Hải Ph ng.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân u n H i An tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 n m 2023 tại trụ s Toà án nhân dân uận Hải An thành phố Hải Ph ng xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án h nh sự sơ thẩm thụ l số: 75/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 8 n m 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 n m 2023 đối với bị cáo:

Phạm Quốc A sinh ngày 07-5-1984 tại Hải Ph ng; nơi đ ng k hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố H phường Đ uận H thành phố Hải Ph ng; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ h c v n: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; uốc tịch: Việt Nam; bố là Phạm Quốc T (đã chết); mẹ là Phan Thị Thúy V; vợ đã ly h n: Nguyễn Thị Hồng N; có 02 con con lớn sinh n m 2004 con nhỏ sinh n m 2016; tiền án tiền sự: kh ng; nhân thân: Có 03 tiền án đã được xóa án tích; Bản án sơ thẩm số 141/HSST ngày 28-9-2005 của T a án nhân dân uận Ng Quyền xử 48 tháng tù về tội Cố gây thương tích; Bản án số 113/2006/HSST ngày 15-6-2006 T a án nhân dân thành phố Hải Ph ng xử 30 tháng tù về tội Gây rối trật tự c ng cộng. Tổng hợp với 48 tháng tù tại Bản án sơ thẩm số 141/HSST ngày 28-9-2005 của T a án nhân dân uận Ng Quyền là 06 n m 06 tháng tù; Bản án sơ thẩm số 34/2016/HSST ngày 30/9/2016 của T a án nhân dân uận Hải An thành phố Hải Ph ng xử 09 tháng tù về tội Giữ người trái pháp luật; bị tạm giữ từ ngày 26-4-2023 đến ngày 28-4-2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Thanh N1; Vắng mặt.

2. Chị Phạm Thị T1; Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Đ ng T2; Vắng mặt.

4. Chị Hà Thị Q; Vắng mặt.

5. Anh Phan Vĩnh T3; Vắng mặt.

6. Chị Trần Thị Thanh H; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 25-4-2023, Phạm Quốc A cùng với Phạm Thị T1 (sinh n m: 1990 trú tại: V V Hải Ph ng), Nguyễn Đ ng T2 (sinh n m: 1983 trú tại: L, T H Hải Ph ng) và Hà Thị Q (sinh n m: 1998 trú tại: T Đ H a B nh) đến chơi bar N2 (địa chỉ: l B L Đ N Hải Ph ng). Đến khoảng 22 giờ cùng ngày Phạm Quốc A nảy sinh định sử dụng ma túy nên đã thuê xe taxi của một người đàn ng kh ng uen biết đi đến khu vực cổng Bệnh viện H2 - V Hải Ph ng rồi xuống xe một m nh đi bộ vào khu vực đường tàu Trần Nguyên H1 gặp và hỏi mua của một người đàn ng kh ng uen biết 05 viên “thuốc lắc” (ma túy tổng hợp) và 02 gam Ketamine với giá 3.000.000 đồng (ma túy tổng hợp giá 200.000 đồng/viên và Ketamine giá 1.000.000 đồng/ 01g). Người đàn ng đồng và bảo Quốc A đứng chờ. Ít phút sau người này uay lại đưa cho Quốc A 01 gói gi y bản màu trắng bên trong có 01 túi nilon kích thước khoảng 04cm x 06cm chứa 05 viên ma túy tổng hợp màu cam và 02 túi nilon kích thước khoảng 02cm x 03cm mỗi túi đựng 01 gam Ketamine. Quốc A c t số ma túy vừa mua được vào trong túi uần phía trước bên phải đang mặc rồi đi ra vị trí xe taxi đang chờ. Lúc này Phạm Thị T1 g i điện bảo Quốc A đến đón. Quốc A đồng và bảo người lái taxi ch về khu vực bar New MDM C để đón T1. Đến nơi Quốc A gặp và rủ Phạm Thị T1, Nguyễn Đ ng T2 và Hà Thị Q về nhà m nh sử dụng ma túy. T1, T2 và Q đồng . Quốc A, T1 và T2 lên xe taxi đi về nhà Quốc A c n Q hẹn sẽ đến sau. Khi về đến nhà Quốc A, địa chỉ số A H Đ H Hải Ph ng, Quốc A dẫn T1 và T2 lên ph ng ngủ của m nh tầng 2. Tại đây Quốc A bỏ 05 viên ma túy tổng hợp màu cam từ trong túi uần phía trước bên phải đang mặc ra và l y 01 viên bẻ làm đ i đưa cho T1 và T2 mỗi người 1/2 viên để sử dụng. Bản thân Quốc A cũng l y 01 viên ra bẻ làm đ i và sử dụng hết 1/2 viên. Phần c n lại Quốc A c t lại vào trong túi nilon. T1, T2 và Quốc A sử dụng ma túy bằng cách cho vào miệng rồi nuốt vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong Quốc A bật nhạc bằng loa xách tay và bật đèn nháy có sẵn trong ph ng ngủ để cả nhóm vừa sử dụng ma tu vừa nghe nhạc.

Đến 01 giờ 17 phút ngày 26-4-2023, Quốc A dùng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 màu đen lắp sim số 0914.284.468 g i điện rủ Phan Vĩnh T3 (sinh n m: 1980 trú tại: tổ F Đ H Hải Ph ng) đến nhà Quốc A để sử dụng ma túy th T3 đồng . Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày T3 đến th th y T1 và T2 cũng đang đây. Quốc A đưa cho T3 01 viên ma túy tổng hợp. Tường bẻ làm đ i và chỉ sử dụng 1/2 viên 1/2 viên c n lại T3 đưa lại cho Quốc A. Một lát sau Quốc A bỏ tiếp 02 túi nilon bên trong có chứa Ketamine ra đổ vào 01 đĩa sứ màu trắng có sẵn trên mặt bàn đối diện giường ngủ và l y 01 thẻ nhựa (dạng thẻ sim điện thoại) đánh mịn số ma tu Ketamine này ra và kẻ làm 02 đường trên đĩa. Quốc A cuộn 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng thành ống hút để hít Ketamine trên đĩa ua đường mũi vào cơ thể. Sử dụng ma tu Ketamine xong Quốc A đặt chiếc đĩa sứ màu trắng có chứa ma túy Ketamine và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng trên thảm rồi nói với m i người trong ph ng là ai dùng ma túy Ketamine th tự l y sử dụng. Đến khoảng hơn 03 giờ cùng ngày Hà Thị Q dẫn theo Trần Thị Thanh H (trú tại: C C Quảng Ninh) đến nhà Quốc A lên ph ng ngủ tại tầng 2. Tại đây Quốc A l y 1/2 viên ma túy tổng hợp ra mời H sử dụng nhưng H từ chối nên Quốc A đưa 1/2 viên này cho Q th Q nhận và sử dụng hết bằng cách cho vào miệng rồi nuốt trực tiếp vào cơ thể. Sau đó T1, T2, T3 và Q c n sử dụng thêm ma túy Ketamine bằng cách dùng ống hút hít Ketamine trên đĩa ua đường mũi vào cơ thể. Cả nhóm lần lượt sử dụng ma tu Ketamine xong th Quốc A mang chiếc đĩa sứ màu trắng có chứa ma túy Ketamine trên thảm đặt lên mặt bàn đối diện giường ngủ để sau này tiếp tục sử dụng rồi nằm nghe nhạc. Đến khoảng 06 giờ ngày 26-4-2023 Tổ c ng tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tu C ng an uận H phối hợp với C ng an phường Đ tiến hành kiểm tra phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội uả tang cùng vật chứng.

Tại Bản Kết luận giám định số 360/KL-KTHS(MT) ngày 28-4-2023 của Ph ng K kết luận:

“- Tinh thể màu trắng của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,32 gam, là loại Ketamine;

- 02 viên nén hình vuông màu cam và mảnh vụn màu cam của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,36 gam, loại MDMA;

- Tinh thể màu trắng bám dính trên 01 thẻ nhựa và 01 ống cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng của mẫu M3 gửi giám định là ma túy, là loại Ketamine nhưng không đủ điều kiện để xác định khối lượng ma túy;

- Tinh thể màu trắng bám dính trên 02 vỏ túi nilon kích thước 02cm x 03cm của mẫu M4 gửi giám định là ma túy, là loại Ketamine nhưng không đủ điều kiện để xác định khối lượng ma túy”.

Tại Biên bản xét nghiệm ch t ma túy trong nước tiểu bằng test thử ngày 26-4-2023, Ph ng K, C ng an thành phố H kết luận: “Phạm Quốc A, Phạm Thị T1, Nguyễn Đăng T2, Phan Vĩnh T3, Hà Thị Q đều dương tính với chất ma túy loại MDMA và Ketamine. Riêng Trần Thị Thanh H âm tính với tất cả các chất ma túy”.

Tại Cơ uan điều tra Phạm Quốc A khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên và khai nhận tại thời điểm các đối tượng sử dụng trái phép ch t ma túy chỉ có Phạm Quốc A và bà Phan Thị Thúy V (mẹ đẻ của Quốc A) tại địa chỉ nhà số A H Đ H Hải Ph ng. Bà V kh ng biết việc Quốc A tổ chức cho các đối tượng khác sử dụng trái phép ch t ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKSHA ngày 28-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân uận Hải An đã truy tố: Bị cáo Phạm Quốc A về tội Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy theo uy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật H nh sự;

Tại phiên toà bị cáo Phạm Quốc A đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo;

Tại phiên t a đại diện Viện Kiểm sát luận tội giữ nguyên uyết định truy tố bị cáo như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

C n cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật H nh sự xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc A từ 07 n m 06 tháng đến 08 n m tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy.

Về h nh phạt bổ sung: Kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử l vật chứng: C n cứ điểm a c khoản 1 Điều 47 Bộ luật H nh sự; điểm a b c Khoản 2 Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự đề xu t:

- Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy c n lại sau giám định trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT/PC09 chứa vỏ bao gói và số ma túy c n lại sau giám định; 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT-A/PC09 chứa 01 thẻ nhựa và 02 vỏ túi nilon kích thước 2cm x 3cm; 01 đĩa sứ màu trắng; sim số 0914.284.468 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội kh ng c n giá trị sử dụng;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 màu đen; 01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng (niêm phong trong phong b số 360MT-B/PC09); 01 loa xách tay; 01 đèn nháy là c ng cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia vỏ nhựa màu đen kh ng có sim số v kh ng liên uan đến tội phạm.

- Đối với lượng 0 32 gam Ketamine và 1 36 gam MDMA thu giữ tại hiện trường trong nhà của Phạm Quốc A tài liệu điều tra xác định được số ma tu trên Quốc A và các đối tượng đang sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết th bị bắt uả tang nên kh ng c u thành tội Tàng trữ trái phép ch t ma tu uy định tại Điều 249 Bộ luật H nh sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo uy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu chứng cứ Cơ uan cảnh sát điều tra C ng an uận H Điều tra viên Viện Kiểm sát nhân dân uận Hải An Kiểm sát viên thu thập; bị cáo người tham gia tố tụng khác cung c p đều thực hiện đúng uy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra truy tố và tại phiên t a bị cáo và người tham gia tố tụng khác kh ng khiếu nại về những chứng cứ tài liệu đã thu thập cung c p. Do đó những chứng cứ tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi uyết định tố tụng của Cơ uan cảnh sát điều tra C ng an uận H Điều tra viên Viện Kiểm sát nhân dân uận Hải An Kiểm sát viên trong uá tr nh điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm uyền tr nh tự thủ tục uy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên t a bị cáo và người tham gia tố tụng khác kh ng có kiến hoặc khiếu nại về hành vi uyết định của các cơ uan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó các hành vi uyết định tố tụng của các cơ uan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên t a bị cáo nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội uả tang lời khai của những người làm chứng vật chứng thu giữ Kết luận giám định Kết luận xét nghiệm test nước tiểu của các đối tượng đã sử dụng ma túy tại nhà bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ s kết luận: Từ đêm ngày 25-4-2023 đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26-4-2023, Phạm Quốc A có hành vi sử dụng địa điểm là nhà của m nh cung c p ma túy dụng cụ cho Phạm Thị T1, Nguyễn Đ ng T2, Phan Vĩnh T3 và Hà Thị Q cùng sử dụng ma túy Ketamine và MDMA th bị lực lượng C ng an phát hiện bắt uả tang. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội "Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy" uy định tại Điều 255 của Bộ luật H nh sự

Về t nh tiết định khung h nh phạt: Bị cáo Phạm Quốc A trong cùng một thời điểm đã tổ chức cho Phạm Thị T1, Nguyễn Đ ng T2, Phan Vĩnh T3 và Hà Thị Q sử dụng trái phép ch t ma túy. Do vậy bị cáo phải chịu t nh tiết định khung h nh phạt: “Đối với 02 người tr lên” theo uy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật h nh sự là có c n cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc uyền uản l của Nhà nước về ch t ma túy xâm phạm trật tự an toàn xã hội. B i vậy cần phải được xử l nghiêm.

Về t nh tiết t ng nặng trách nhiệm h nh sự: Bị cáo kh ng có t nh tiết t ng nặng trách nhiệm h nh sự;

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hư ng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự uy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thư ng Huân chương kháng chiến hạng Ba và mẹ đẻ được tặng thư ng Huy chương kháng chiến hạng Nh nên xem đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự khác của bị cáo uy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự.

Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 03 tiền án (đã được xoá án tích) như phần c n cước l lịch đã nêu. B i vậy được coi là chưa can án. Tuy nhiên cần th y rằng bị cáo là người có nhân thân x u;

Về h nh phạt chính: Trên cơ s đánh giá đầy đủ tính ch t mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên; cũng như các t nh tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự và nhân thân của bị cáo đã phân tích tại các mục [5] [6] [7] và [8] Hội đồng xét xử th y cần thiết phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và ph ng ngừa chung. Nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi uyết định h nh phạt.

Về h nh phạt bổ sung: Xét bị cáo kh ng có việc làm và thu nhập ổn định nên kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử l vật chứng:

- Lượng ma túy c n lại sau giám định đựng trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT/PC09 là vật Nhà nước câm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 thẻ nhựa và 02 vỏ túi nilon kích thước 02cm x 03cm đựng trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT-A/PC09; 01 đĩa sứ màu trắng và sim số 0914.284.468 là c ng cụ phạm tội kh ng c n giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong 01 B gi y số 360MT-B/PC09; 01 loa xách tay và 01 đèn nháy là c ng cụ phạm tội c n giá trị nên tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 bị cáo sử dụng để liên lạc rủ rê Phan Vĩnh T3 đến sử dụng ma túy. Do đó đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

- 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen kh ng có sim số đang tạm giữ của bị cáo. Th y kh ng liên uan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 0 32 gam Ketamine và 1 36 gam MDMA thu giữ tại hiện trường vụ án là nhà của Phạm Quốc A xác định lượng ma tu trên Quốc A và các đối tượng đang sử dụng chưa kịp sử dụng hết th bị bắt uả tang nên Viện kiểm sát kh ng truy tố tội Tàng trữ trái phép ch t ma tu uy định tại Điều 249 Bộ luật H nh sự là có c n cứ và đúng uy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy của Phạm Thị T1, Nguyễn Đ ng T2, Phan Vĩnh T3 và Hà Thị Q Cơ uan Cảnh sát điều tra C ng an uận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97 98 99 và 100/QĐ-XPVPHC đối với Phạm Thị T1, Hà Thị Q, Phan Vĩnh T3 và Nguyễn Đ ng T2 theo uy định.

Đối với người đàn ng đã bán ma tu cho bị cáo ua điều tra kh ng xác minh được nhân thân lai lịch nên kh ng có c n cứ xử l .

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí h nh sự sơ thẩm.

V các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật H nh sự xử phạt: Phạm Quốc A 07 (bẩy) n m 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy. Thời hạn ch p hành h nh phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26-4-2023.

C n cứ điểm a c khoản 1 Điều 47 Bộ luật H nh sự; điểm a b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự:

Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy c n lại sau giám định đựng trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT/PC09; 01 thẻ nhựa; sim số 0914.284.468 và 02 vỏ túi nilon kích thước 2cm x 3cm đựng trong 01 B gi y theo d u niêm phong số 360MT-A/PC09 và 01 đĩa sứ màu trắng;

Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 màu đen; 01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong 01 B gi y số 360MT-B/PC09; 01 loa xách tay và 01 đèn nháy;

Trả lại Phạm Quốc A 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia vỏ nhựa màu đen kh ng có sim số. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-8-2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận H và Chi cục THA dân sự quận H).

C n cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng h nh sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội uy định về mức thu miễn giảm thu nộp uản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí h nh sự sơ thẩm.

Bị cáo có uyền kháng cáo lên T a án nhân dân thành phố Hải Ph ng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ