vanban.org

Bản án 79/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước chiếc 01 xe mô tô, biển kiểm soát 54S3-9065 số khung: HC12019Y-092912, số máy: C12E-1651396 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 28/18/PNK ngày 11-12-2017 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2018/HSST
Ngày: 08-05-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Đặng Mỹ Hạnh

2. Bà: Nguyễn Đinh Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, số 06 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 352/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Lưu Đức T; ngày sinh 18-3-1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 100/31/20 đường Đ, Phường 1, quận B, Thành phố H; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đức B, sinh năm 1939 và bà Vũ Thị P, sinh năm (không rõ); tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 29-11-2017; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ban Quản lý X; Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hùng P, chức vụ: Phó trưởng ban quản lý là người đại diện theo ủy quyền; Địa chỉ: 5/10 đường H, Phường 1, quận B, Thành phố H (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Kim H; Địa chỉ: 100/31/20 đường Đ, Phường 1, quận B, Thành phố H (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29-11-2017, các anh Trần Hoàng A và Nguyễn Tấn D thuộc tổ bảo vệ Ban quản lý X và đường Nguyễn Huệ đang đi tuần tra trên phố đi bộ Nguyễn Huệ. Khi đến đối diện trước số 41 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, Quận 1 thì phát hiện Lưu Đức T đang dừng xe máy biển số 54S3-9065 sát ở gốc cây trên phố đi bộ và lén lút lấy trộm 2 vỉ kim loại dùng để đậy hố trồng cây quấn vào áo mưa xanh đậm bỏ lên xe máy định bỏ đi thì bị hai anh A và D bắt giữ T cùng tang vật, sau đó báo cho anh Bùi Anh Đức là nhân viên Ban quản lý X biết rồi giao cho công an phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Lưu Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng:

- 02 vỉ kim loại dùng để đậy hố trồng cây có kích thước 90cm x 70cm x 17cm x 107cm theo kết luận định giá tài sản số 263/KLĐGTS ngày 09-12-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân Quận 1 trị giá 4.250.000 đồng.

- Thu giữ của Lưu Đức T: 01 áo mưa màu xanh đậm; 01 quần jean màu xanh; 01 áo thun màu kem tay ngắn; 01 áo khoác xanh; 01 xe gắn máy biển số 54S3-9065.

Tại Cáo trạng số 36/CTr-VKS ngày 30 tháng 01 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Lưu Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 vẫn giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lưu Đức T về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Lưu Đức T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; xử lý vật chứng của vụ án: 01 xe gắn máy biển số 54S3-9065. Qua xác minh xe do bà Lê Thị Kim H là vợ của Lưu Đức T đứng tên đăng ký sở hữu, bà H đã ly thân với T và cho T xe gắn máy trên để sử dụng từ năm 2013 và không còn yêu cầu gì với chiếc xe trên, nên chiếc xe là phương tiện phạm tội; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước; Tịch thu, tiêu hủy 01 áo mưa màu xanh đậm; 01 quần jean màu xanh; 01 áo thun màu kem tay ngắn; 01 áo khoác xanh do không còn giá trị sử dụng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29-11-2017, tại đối diện nhà số 41 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, Quận 1, Lưu Đức T có hành vi lén lút trộm cắp 2 vỉ kim loại dùng để đậy hố trồng cây có kích thước 90cm x 70cm x 17cm x 107cm trị giá 4.250.000 đồng của Ban quản lý X. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lưu Đức T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Lưu Đức T là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra; Bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

Ban quản lý X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Xử lý vật chứng:

- 01 xe gắn máy biển số 54S3-9065. Qua xác minh xe do bà Lê Thị Kim H là vợ của Lưu Đức T đứng tên đăng ký sở hữu, bà H đã ly thân với T và cho T xe gắn máy trên để sử dụng từ năm 2013 và không còn yêu cầu gì với chiếc xe trên, nên chiếc là phương tiện thực hiện tội phạm cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 áo mưa màu xanh đậm; 01 quần jean màu xanh; 01 áo thun màu kem tay ngắn; 01 áo khoác xanh do không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Lưu Đức T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày: 29-11-2017;

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước chiếc 01 xe mô tô, biển kiểm soát 54S3-9065 số khung: HC12019Y-092912, số máy: C12E-1651396 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 28/18/PNK ngày 11-12-2017 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa màu xanh đậm; 01 quần jean màu xanh; 01 áo thun màu kem tay ngắn; 01 áo khoác xanh theo Phiếu nhập kho vật chứng số 28/18/PNK ngày 11-12-2017 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí:

- Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

- Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bà H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ