- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Lưu - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HS-ST Ngày 23-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 339/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn L, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1997 tại Sơn La. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh S; nơi ở hiện tại: số 08/109 T, phường K, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Lò Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/9/2022; tạm giam ngày 22/9/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 14/09/2022, Công an phường Kênh Dương kiểm tra hành chính tại phòng trọ số 08/109 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng thì phát hiện Lò Văn L và Lò Văn Quyết có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, còn có Lò Văn Cha-Ư đang ngủ. Quá trình kiểm tra, thu giữ dưới chân Lưu 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh, kích thước 02 x 02cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy (mẫu số 1), 01 mảnh giấy bạc, nghi có bám dính ma túy (mẫu số 2), 01 bật lửa màu xanh và 01 ví da của Lưu, bên trong có 80.000 đồng. Thu giữ của Quyết 01 điện thoại di động Vsmart màu đen. Tổ công tác đã đưa Lưu, Quyết, Cha-Ư cùng tang vật về trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra, Lò Văn L khai: Khoảng 17 giờ ngày 14/9/2022, Lưu nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên đã một mình đi đến khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng. Tại đây, Lưu gặp và mua 200.000 đồng ma túy của 01 nữ giới (không rõ lai lịch), nhận 01 gói nilon màu đỏ, bên trong có ma túy. Lưu cầm gói ma túy vừa mua được về nhà trọ rồi lấy kéo bấm rạch gói nilon ra, thấy bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa Heroine dạng cục. Lưu bỏ cục ma túy vừa mua được vào 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh, kích thước 02 x 02 cm (có sẵn trong phòng) còn mảnh nilon màu đỏ và mảnh giấy trắng thì cho vào sọt rác. Lưu dùng tay bẻ nhỏ cục Heroine thành các mảnh nhỏ rồi lấy một ít Heroine cho vào trong tờ giấy bạc của vỏ bao thuốc Thăng Long và dùng bật lửa đốt Heroine sử dụng một mình. Lúc này, trong phòng có Lò Văn Cha-Ư đang ngủ. Khi Lưu đang sử dụng ma túy thì Lò Văn Quyết đi vào trong phòng và nói “Anh đang vã quá, mày cho anh mấy hơi, anh có mấy chục đưa mày” rồi đưa cho Lưu số tiền 80.000 đồng. Lưu nhận tiền, lấy một ít Heroine cho vào 01 mảnh giấy bạc rồi đưa cho Quyết. Quyết cầm mảnh giấy bạc, dùng bật lửa châm lửa sử dụng hết số Heroine này. Lưu nghĩ rằng số Heroine mà Lưu đưa cho Quyết không tương xứng với số tiền 80.000 đồng mà Quyết đưa cho Lưu nên Lưu châm lửa đốt Heroine trong tờ giấy bạc mà Lưu đang sử dụng đưa đến gần miệng Quyết thì Quyết cũng sử dụng ma túy trong tờ giấy bạc mà Lưu đưa. Lúc này, lực lượng Công an kiểm tra hành chính thì phát hiện Lưu và Quyết có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với số ma túy còn lại trong 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh thì Lưu khai để sử dụng cho bản thân.
Lò Văn Quyết khai nhận phù hợp với Lò Văn L về việc Quyết nói với Lưu “Anh đang vã quá, mày cho anh mấy hơi, anh có mấy chục đưa mày” và đưa 80.000 đồng cho Lưu. Quyết đã sử dụng hết số Heroine mà Lưu đưa cho Quyết. Khi Lưu không nói gì mà đưa tờ giấy bạc chứa Heroine (Lưu đang sử dụng) đến gần miệng Quyết và bật lửa cho Quyết thì Quyết nghĩ là Lưu mời Quyết sử dụng Heroine nên Quyết đã cũng sử dụng.
Lò Văn Cha-Ư khai: Cha-Ư ở cùng phòng trọ với Lò Văn L. Cha-Ư không biết và không chứng kiến việc Lưu và Quyết sử dụng ma túy trong phòng vì lúc đó Cha-Ư đang ngủ. Cha-Ư không sử dụng ma túy.
Tại Kết luận giám định số 463/KL-KTHS(MT) ngày 22/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,11 gam, loại Heroin. Mảnh giấy bạc của mẫu số 2 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Heroine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên”.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu với các chất ma túy tại phòng PC09 cho kết quả:
- Lò Văn L và Lò Văn Quyết dương tính với Heroine.
- Lò Văn Cha Ư âm tính với các chất ma túy.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định, 01 bật lửa màu xanh, 01 ví da, số tiền 80.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 08/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn L về tội 02 tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với người nữ giới đã bán ma túy cho Lưu vào ngày 14/9/2022, quá trình điều tra, do Lưu khai không biết họ tên, tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với Lò Văn Quyêt: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trả lại 01 điện thoại Vsmart cho Quyết.
Đối với Lò Văn Cha-Ư, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn L như Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn L mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 42 đến 48 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định, 01 bật lửa màu xanh, 01 ví da là vật nhà nước cấm lưu hành và là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 80.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có .
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc Thái, thuộc vùng có điều kiện kinh tế/xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng Công an;lời khai người chứng; lời khai Lò Văn Quyết, vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/9/2022 Lò Văn L có hành vi sử dụng bật lửa để đốt chất ma túy Heroine có trên 01 tờ giấy bạc của Lưu cho Quyết sử dụng bằng hình thức hút qua đường miệng tại phòng trọ (nơi ở của Lưu) tại số 08/109 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, Lê Chân, Hải Phòng. Hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để Quyết thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên của Lò Văn L đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.
Ngoài ra đối với lượng ma túy còn lại của bị cáo bị thu giữ khi bắt giữ là 0,11 gam Heroin, Lưu khai là của Lưu cất giữ để sử dụng riêng cho bản thân, không cho ai khác sử dụng. Hành vi cất giữ trái phép 0,11 gam Heroin trên của Lò Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Lò Văn L theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra bị cáo Lò Văn L là người dân tộc Thái , cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 861QĐ/TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ), trình độ văn hóa thấp, hạn chế nhận thức về xã hội cũng như pháp luật. Vì vậy có thể chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, với lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ, xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Do Lò Văn L phạm 2 tội nên cần tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo phải thi hành theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 các điều 249 và 255 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng do bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 bật lửa màu xanh 01 ví da đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 80.000đồng thu giữ của bị cáo xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo là người dân tộc Thái, thuộc vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lò Văn L 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15 tháng 9 năm 2022.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định có số 463MT/PC09 và 463MT-A/PC09); 01 bật lửa ga màu xanh và 01 ví da đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 80.000đồng (Tám mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 27/02/2023 giữa Cơ quan Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và Ủy nhiêm chi ngày 03/3/2023).
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lò Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Phong Lan Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Lê Chân;
- VKSND TP Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
Phạm Thị Phong Lan
- PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Lê Chân;
- VKSND TP Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
Phạm Thị Phong Lan
- PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Lê Chân;
- VKSND TP Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
Phạm Thị Phong Lan
- PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Phong Lan
| Nơi nhận: - VKSND Quận Lê Chân: 01 bản; - VKSND TP Hải Phòng: 01 bản; - TATP: 01 bản; - CAQ. Lê Chân: 01 bản; - THADS: 01 bản; - Sở Tư pháp Hải Phòng: 01 bản; - Bị cáo: 01 bản; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |