- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H phạm tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, sửa Bản án sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 08-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Đ về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HS-PT Ngày: 27 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Lê Quốc Hương và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với Nguyễn Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 08-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Đ.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức H, sinh năm 2001 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: thợ thạch cao; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 13-01-2023 đến ngày 10-6-2023; tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H: Ông Nguyễn Văn T2, Luật sư Công ty luật TNHH S thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Số 200, đường Q, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt; có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 12-2022, Nguyễn Văn T kết bạn với tài khoản zalo “Sầu riêng Bình Phước” hỏi mua pháo và được báo giá như sau: pháo hoa nổ dạng hộp (bệ) có giá 850.000 đồng/ hộp (bệ), pháo nổ có dạng hình cầu (thường gọi là pháo bi) có giá 450.000/ túi (một túi có 100 viên). T đặt mua 25 hộp pháo hoa nổ giá 21.500.000 đồng, khi nhận được tọa độ vị trí mua pháo là một địa điểm thuộc tỉnh Bình Phước thì T rủ Nguyễn Đức H đi cùng (khi đi T không nói cho H mục đích đi mua pháo hoa nổ). Sau khi đưa số pháo hoa nổ về nhà, trong quá trình cất giấu T nói cho H biết và rủ H nếu ai mua pháo thì giới thiệu, T chia lợi nhuận. Sau khoảng 10 ngày, khi bán gần hết số lượng pháo trên thì T tiếp tục gọi điện thoại rủ H cùng nhau mua thêm pháo hoa nổ và pháo bi nổ bán kiếm lời, số tiền chênh lệch (tiền lời) có được từ việc H trực tiếp bán pháo cho người khác sẽ được T và H thỏa thuận chia đôi. Với phương thức trên, T liên lạc với người dùng tài khoản Zalo “Sầu riêng Bình Phước” đặt mua 25 hộp pháo hoa nổ và 10 bịch pháo bi nổ tổng số tiền 25.750.000 đồng về cất giấu tại nghĩa địa thôn 5, xã K. Sau đó, cả hai bán hết số pháo hoa và pháo bi nổ. Quá trình bán, T giao cho H mỗi hộp pháo hoa nổ giá 1.000.000 đồng (sau khi trừ tiền vốn và tiền công thuê xe đi lấy pháo), H bán lại cho người khác 1.500.000 đồng/hộp, nếu người mua lấy số lượng nhiều hoặc người quen thì H tính 1.400.000 đồng/hộp.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chứng minh được Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức H bán như sau:
- Không nhớ cụ thể ngày trong tháng 12-2022, H mang 02 hộp pháo hoa nổ đến phòng trọ của Lê Thanh P (tên thường gọi: T), tại Tổ dân phố 2, thị trấn K, Đ, bán cho Phong 02 hộp pháo hoa nổ nhưng chưa lấy tiền.
Ngày 19-12-2022, H và T mang 01 hộp pháo hoa nổ đến nhà Bùi Xuân D, địa chỉ: thôn 15, xã Đ, Đ bán cho D với giá 1.500.000 đồng/hộp.
Ngày 31-12-2022, H mang 01 hộp pháo hoa nổ đến tiệm cắt tóc của Trần Văn T3, địa chỉ: tổ dân phố 5, thị trấn K, Đ bán cho T3 với giá 1.500.000 đồng.
Ngày 03-01-2023, H bán 03 hộp pháo hoa nổ cho Nguyễn Tấn Đ, địa chỉ: thôn 12, xã Đ, Đ với giá 1.400.000 đồng/hộp;
Kết luận giám định số 1000/KLMT-PC09 ngày 17-01-2023 của Phân viện Khoa học kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), có khối lượng 07kg.
Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 08-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Đ đã quyết định: Tuyên bố Nguyễn Đức H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đức H 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với Nguyễn Văn T, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 18-8-2023, Nguyễn Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Đức H thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xử phạt bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, ghi nhận thêm tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo.
Người bào chữa có luận cứ bào chữa: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt và điều luật áp dụng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 08-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Đ đã kết án Nguyễn Đức H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của Nguyễn Đức H, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là: có thành tích trong đấu tranh tố giác tội phạm tại địa phương được Công an xã Đắk N, huyện Đắk S xác nhận và có quyết định khỏi tố bị can của công an huyện Đắk S. Bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, khối lượng pháo nổ không lớn ( chỉ 7kg). Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa phù hợp một phần nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xem xét khi quyết định.
. Về án phí: Kháng cáo của Nguyễn Đức H được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H, sửa Bản án sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 08-8-2023 của Toà án nhân dân huyện Đ về hình phạt.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đức H 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13-01-2023 đến ngày 10-6-2023.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - CQCSĐT Công an huyện Đ; - CQTHAHS Công an huyện Đ; - Bị cáo và người bào chữa; - Lưu: Tổ HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |