vanban.org

Bản án 78/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H cùng đồng phạm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2021/HS-PT
Ngày 28-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang;

Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và ông Bằng Công Hiê ̣p.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh , Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình Kiêm, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2021/TLPT-HS, ngày 28/6/2021 đối với các bị cáo H1 Thị H, Lâm Văn H1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HSST, ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. HOÀNG THỊ H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/01/1995, tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 2, thị trấn HT, huyê ̣n QH, tỉnh Cao Bằng ; chỗ ở hiện nay: Xóm VT, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Tr và bà Phùng Thị L; có chồng là Lâm Văn H1 và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiê ̣n đang tại ngoại, (có mặt tại phiên tòa).

2. LÂM VĂN H1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/5/1997, tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm VT, xã Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn H2 và bà Phạm Thị T; có vợ là Hoàng Thị H và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiê ̣n đang ta ̣i ngoa ̣i , (có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án này, còn có bị cáo Nguyễn Văn P không kháng cáo và không bị kháng nghị, (vắng mặt do Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2020, tại xóm AL, xã YL, huyện PL, tỉnhThái Nguyên, Công an huyện Phú Lương phối hợp với Công an xã Yên Lạc bắt quả tang Lâm Văn H1, H1 Thị H và Nguyễn Văn P đang có hành vi mua bán trái phép hàng cấm (pháo nổ ). Tang vật thu giữ gồm: 02 thùng cát tông, mỗi thùng bên trong đựng 110 vật hình cầu có vỏ bọc giấy màu nâu, vàng, có gắn 01 đoạn dây màu xanh (nghi là pháo cù). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, đặc điểm, khối lượng và lấy mẫu giám định số tang vật thu giữ xác định: 110 vật hình cầu có vỏ bọc giấy màu nâu, vàng, có gắn 01 đoạn dây màu xanh (nghi là pháo cù), niêm phong trong thùng cát tông, ký hiệu A1 có khối lượng 3,1kg; 110 vật hình cầu có vỏ bọc giấy màu nâu, vàng, có gắn 01 đoạn dây màu xanh (nghi là pháo cù), niêm phong trong thùng cát tông, ký hiệu A2 có khối lượng 03kg. Tổng khối lượng vật chứ ng nghi là pháo bị thu giữ là 6,1kg.

Tại Kết luận giám định số 266/KL-PC54, ngày 31/01/2020của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Số vật nghi là pháo thu giữ của H1, H và P là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt gây ra tiếng nổ.

Tại Cơ quan điều tra, H1, H và P khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 18/01/2020, P nảy sinh ý định mua pháo về sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2020, nên đa điện thoại cho H hỏi mua 100 đến 200 quả pháo cù, H lêñ mạng xã hội tìm mua pháo rồi gọi điện thoại cho ngườ i phu ̣ nữ đặt mua 200 quả pháo cù. Đến 20 giờ cùng ngày, người phụ nữ đa mang 220 quả pháo cù đến báñ cho H gần khu vực đền Đ, xã Đ, huyện PL vớ i giá 22.000đ/quả, H trả cho ngườ i bán pháo số tiền 4.400.000đồng, rồi mang 02 thùng cát tông đựng pháo về nhà cất giấu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, P nhận điện thoại của người đàn ông không quen biết hỏi mua pháo cù. H1 đi chơi về thấy vợ là H nói vừ a mua được 200 quả pháo cù, với giá 22.000đ/quả. Đến 06 giờ 30 phút ngày 19/01/2020, H gọi điện thoại cho P thông báo có 220 quả pháo cù, bán với giá 25.000đ/quả, P đồng ý mua hết và hẹn giao hàng tại dốc ĐL, thuộc xã YL, huyê ̣n PL, P cũng hẹn người đàn ông đặt mua pháo của mình đến địa điểm trên để giao hàng và thông báo giá 27.000đ/quả pháo cù. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, H1 chở H cùng 02 thùng cát tông đựng pháo đến đi ̣a điểm đa he ̣̃ n để bán pháo cho P. Đến nơi, H bê 02 thùng cát tông đựng pháo giấu ở bụi cây ven đường, khi P đến, H chỉ vị trí để pháo cho P, P nói cứ để ở đấy chờ người đến mua, lúc này H và H1 mới biết P mua pháo của mình để bán lại. Sau đó có 01 người đàn ông đi xe máy đến trao đổi với P, khi đang giao dịch thì bị Công an huyện Phú Lương, Công an xã Yên Lạc phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng, người đàn ông đặt mua pháo vớ i P đa cha ̣̃

y thoát.

Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HSST, ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử các bị cáo Hoàng Thị H, Lâm Văn H1 và Nguyễn Văn P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự, xử pha ̣t bị cáo Lâm Văn H1, Nguyễn Văn P, mỗi

̀ bị cáo 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án, phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000 đồng.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày

̀ 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phá n Tòa án nhân dân tối cao , xử pha ̣t bi ̣ cáo Hoàng Thị H 18 tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian th ử thách là 36 tháng, phạt bổ sung 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vâ ̣t chứ ng , án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 31/5/2021, bị cáo Hoàng Thị H kháng cáo xin miễn hình phạt bổ sung 20.000.000 đồng.

Ngày 02/6/2021, bị cáo Lâm Văn H1 kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo, xin miễn hinh pha ̣t bổ sung 20.000.000 đồng. Ngày 27/7/2021, bị

̀ cáo H1 có đơn xin rút nô ̣i dung kháng cáo xin miễn hinh pha ̣t bổ sung.

̀

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H giữ nguyên nô ̣i dung kháng cáo ; bị cáo H1 rút nội dung kháng cáo xin giảm mức h ình phạt tù , giữ nguyên nô ̣i dung kháng cáo xin hưởng án treo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phú c thẩm:

Đối với bị cáo H1 là người có nhân t hân tốt, chưa có tiền án , tiền sự, lần đầu pha ̣m tô ̣i, khối lượng pháo buôn bán ít 6,1kg, có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự và không có tinh tiết tăng nă ̣ng . Sau

̀

̀ khi xét xử sơ thẩm , bị cáo đã nộp một khoản tiền phạt bổ sung và tiền án phí theo quyếtđi ̣nh của Bản án sơ thẩm , thể hiê ̣n bi ̣ cáo có ý thức chấp hành pháp luâ ̣t, bị cáo có ông nô ̣i Lâm Văn X là Liệt sĩ. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo.

Đối với bị cá o H có hành vi cùng chồng là Lâm Vă n H1 buôn bán pháo nổ, bị cáo H đang mang thai con thứ hai và đang nuôi con nhỏ , gia đinh bi ̣ cáo

̀ thuô ̣c diê ̣n có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chinh quyền đi ̣a

phương xác

́ nhâ ̣n. Nếu áp du ̣ng hinh pha ̣t b ổ sung 20.000.000 đồng sẽ gây khó khăn cho gia

̀ đinh bi ̣ cáo , trong khi đó Tòa án cấp sơ thẩm đa ã ́p du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung ̀

̀ 20.000.000 đồng đối vớ i bi ̣ cáo H1, do vâ ̣y có căn cứ chấp nhâ ̣n kháng cáo của bị cáo xin miễn hinh pha ̣t bổ sung.

̀

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn H1, Hoàng Thị H, sử a Bản án hình sự sơ thẩm theo hướ ng, chuyển mứ c hinh pha ̣t 12 tháng tù

̀ cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách là 24 tháng đối vớ i bi ̣ H1; miễn hinh pha ̣t

̀ bổ sung 20.000.000 đồng đối vớ i bi ̣ cáo H.

Các bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.

Các b ị cáo nói lời sau cùng : Bị cáo H1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưở ng án treo; bị cáo H xin được miễn hinh pha ̣t bổ sung

̀ 20.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các b ị cáo gửi trong thời hạn và đúng thủ tục quy định, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp vớ i các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2020, tại khu vực xóm AL, xã YL, huyện PL, tỉnhThái Nguyên. Công an huyện Phú Lương và Công an xã Yên Lạc đa bắt quả tang̃ Lâm Văn H1, Hoàng Thị H và Nguyễn Văn P đang có hành vi mua bán trái phép hàng cấm (pháo nổ), vớ i khối lượng 6,1 kg.

Với hành vi trên, các bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Phú Lương , tỉnh Thái Nguyên xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin hưở ngán treo của bị cáo Lâm Văn H1, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo H1 tham gia vớ i vai trò đồng phạm giúp sức cùng vớ i bi ̣ cáo H thực hiê ̣n viê ̣c buôn bán hàng cấm (pháo nổ). Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm , bị cáo xuất trình : Biên lai thu nô ̣p tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền án p hí hình sự sơ thẩm theo quyết đi ̣nh của Bản án sơ thẩm; Bằng Tổ quốc ghi công đối vớ i Liê ̣t sy Lâm Văn X là̃ ông nô ̣i bi ̣ cáo . Xét thấy, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo là ngườ i có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hại cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị, an toàn xã hội. Để thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối vớ i ngườ i lần đầu pha ̣m tô ̣i, ăn năn hối cải, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

[4] Xét kháng cáo xin miễn hinh pha ̣t bổ sung 20.000.000 đồng của bị cáo

̀

Hoàng Thị H, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo H cùng với bị cáo H1 là (chồng) thực hiê ̣n viê ̣c buôn bán hàng cấm (pháo nổ), cấp sơ thẩm đều áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo

, phạt mỗi bị cáo 20.000.000 đồng là có phần nghiêm khắc. Các bị cáo thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm (pháo nổ) vớ i khối lượng ít 6,1kg. Tại cấp phúc thẩm , bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình hết sức khó khăn , đang phải nuôi con nhỏ , bị cáo đang mang thai con thứ hai, chồng bi ̣ cáo là lao động chính trong gia đình được chinh quyền đi ̣a phương xác nhận. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm pha ̣t bổ

́ sung bi ̣ cáo H1 (chồng bi ̣ cáo) 20.000.000 đồng cũng đủ tác du ̣ng răn đe đối vớ i bị cáo, nếu áp dụng thêm hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cá o sẽ gây khó khăn cho

̀ cả gia đinh. Do vâ ̣y, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo , Hô ̣i đồng xét xử

̀ phúc thẩm không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung 20.000.000 đồng đối vớ i bi ̣ cáo, để

̀ tạo điều kiê ̣n cho gia đinh bi ̣ cáo giảm bớ t phần nào khó khăn về kinh tế.

̀

Tòa án cấp sơ thẩm nhận đi ̣nh, đối vớ i bi ̣ cáo H đang mang thai trên 16 tuần tuổi theo Giấy siêu âm đa nô ̣̃ p cho Tòa án, nên cho bi ̣ cáo được hưở ng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự th eo khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự là

̀ chưa chính xác. Theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự quy đi ̣nh:“Ngườ i

̀ phạm tội là phụ nữ có thai ”, như vâ ̣y bi ̣ cáo H phải được hưở ng tinh tiết giảm

̀ nhẹ trách nhiệm hình sự được quy đi ̣nh ta ̣i điểm n khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh

̀ sự mớ i đúng, nhưng do bi ̣ cáo không kháng cáo xin giảm nhe ̣ hinh pha ̣t , Viê ̣n

̀ kiểm sát không kháng nghi ̣, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét , Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiê ̣m.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các b ị cáo Lâm Văn H1, Hoàng Thị H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HSST, ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên về mức hình phạt tù và hình phạt bổ sung như sau:

1. Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn H1, Hoàng Thị H phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”.

2. Về hinh pha ̣t:

̀

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn H1 12 (mườ i hai) tháng tù

̀ cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lâm Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xa Đ, huyê ̣̃

n PL, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về hinh pha ̣t bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 190 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự: Không

̀

̀ áp dụng hình phạt bổ sung 20.000.000 đồng (hai mươi triê ̣u đồng) đối vớ i bi ̣ cáo Hoàng Thị H.

4. Ghi nhâ ̣n bi ̣ cáo Lâm Văn H1 đa nô ̣̃ p 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền pha ̣t bổ sung tại Biên lai thu tiền số 0000299 và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phi hinh sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000300 ngày 27/7/2021

́ ̀ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lâm Văn H1, Hoàng Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HSST, ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án 28/7/2021./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ