vanban.org

Bản án 78/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về điều luật và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bán án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2020/HS-ST
Ngày: 27 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Lan Hương

Bà Mai Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thành Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh ngày: 16/9/1999; tại: Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm, xã Đ, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: xã B, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 10/12; Nghề nghiệp: Công nhân xây dựng; Bố: Nguyễn Văn Ch; Sinh năm: 1960; Mẹ kế: Đinh Thị L; Sinh năm 1969; Ông, bà đều làm ruộng và trú tại: xã Đ, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Mẹ đẻ: Bà Nguyễn T; Nghề nghiệp: Lao động tự do ở thành phố Hồ Chí Minh; Gia đình có 02 anh em cùng cha khác mẹ, M là có thứ nhất, chưa có vợ con.

Quá trình bản thân: Sinh ra và lớn lên tại xã Đ, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 26/4/2016 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/6/2016 bị Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt theo Bản án số 33/2016/HSST ngày 26/4/2016 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An buộc Nguyễn Văn M phải chịu hình phạt

1

chung là 15 tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam số 6, cục 10, Bộ Công An, ra trại về địa phương vào ngày 22/9/2017. Đã thi hành xong các khoản án phí, chưa thi hành phần trách nhiệm dân sự, đương sự chưa có đơn yêu cầu và chưa hết thời hiệu yêu cầu. Tháng 6/2020 vào làm công nhân xây dựng tại xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới cho đến ngày phạm tội. Ngày 15/9/2020 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa thi hành; Tiền án, tiền sự: Không (Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi nên không có án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Hoàng Thị Thúy V, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn xã L, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Anh Lê Hữu T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu đô thị mới, TDP Phú Thượng, phường Phú Hải, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Bùi T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xã Th, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Anh Hà Duy T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn, xã L, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong tháng 7,8/2020 Nguyễn Văn Minh đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 ngày 31/7/2020, Nguyễn Văn M đi bộ ngang qua nhà chị Hoàng Thị Thuý Vở thôn H, xã B. Thấy cổng và cửa chính mở, M đi vào phòng khách lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng hồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu xám rồi nhanh chóng tẩu thoát. Ngày 02/8/2020, M đến cửa hàng IFAN STORE ở 91 Trần Hưng Đạo, bán điện thoại di động Iphone 6 Plus cho anh Hà Duy T lấy 1.500.000 đồng, tiêu xài hết. Anh T bán cho khách không rõ địa chỉ lấy 1.500.000 đồng, hiện không thu hồi được. Sau đó, Nguyễn Văn M đến cửa hàng Tuấn Apple ở Trần Hưng Đạo bán điện thoại di động Iphone 8 Plus cho anh Nguyễn Bùi T lấy 1.800.000 đồng, tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 31/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng hồng trị giá 8.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám trị giá 2.100.000 đồng (BL 50).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả

2

lại điện thoại di động hiệu Iphone 8 trên cho chị Hoàng Thị Thuý V.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị Thuý V yêu cầu Nguyễn Văn M bồi thường số tiền 2.100.000 đồng, anh Nguyễn Bùi T yêu cầu bồi hoàn số tiền 1.800.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 ngày 07/8/2020, Nguyễn Văn M đi đến Trung tâm mạng lưới Mobifone ở tổ dân phố, phường Đ. Thấy cổng và cửa chính mở, không có người trông giữ, M đi vào bên trong lấy một máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen của anh Hoàng Minh T để trên bàn làm việc rồi tẩu thoát. M đem máy tính xách tay bán tại một cửa hàng diện thoại không rõ địa chỉ ở Hà Tĩnh lấy 1.200.000 đồng, tiêu xài hết (BL 91-94; 97-101; 158-162).

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 31/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Đồng Hới kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen trị giá 3.500.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Minh T yêu cầu Nguyễn Văn M bồi thường số tiền 3.500.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 24/8/2020, Nguyễn Văn M đi bộ khi đến lán công trình của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xây dựng và dịch vụ thương mại Q thuộc tổ dân phố , phường P. Thấy người trong lán đang ngủ, M đột nhập vào trong lấy một máy tính xách tay nhãn hiệu SONY VAIO màu trắng của anh Lê Hữu T để ở bàn làm việc. Sau đó cất giấu máy tính trong bụi cây ven đường ở xã Bảo Ninh. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày M quay lại lấy máy tính đem đến cầm cố ở tiệm cầm đồ Hoàng L ở tổ dân phố Diêm Hải, phường Phú Hải nhưng chị Nguyễn Thị C - chủ tiệm không đồng ý. Lúc ra khỏi tiệm thì lực lượng công an phường Phú Hải phát hiện đưa về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 26/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Đồng Hới kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu SONY VAIO màu trắng, số serial 27529030-3000850 trị giá 2.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại máy tính xách tay trên cho anh Lê Hữu

Ngoài ra, Nguyễn Văn M khai nhận ngày 07/8/2020 đã thực hiện 01 vụ trộm cắp ở phường Hải Thành nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/9/2020 Công an thành phố Đồng Hới đã xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với M

Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKSĐH-KT ngày 27 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s, khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Minh từ 12 đến 15 tháng tù. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho chị chị Hoàng Thúy V 2.100.000 đồng; Bồi thường cho anh Hoàng

3

Minh T 3.500.000 đồng; Bồi thường cho anh Nguyễn Bùi T 1.800.000 đồng. Án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, đã lén lút trộm cắp tài sản của chị V, một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng hồng trị giá 8.500.000 đồng, một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám trị giá 2.100.000 đồng. Của anh T một máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen trị giá 3.500.000 đồng. Của anh T, một máy tính xách tay nhãn hiệu SONY VAIO màu trắng, số serial 27529030-3000850 trị giá 2.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo trộm là 16.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, có trình độ nhận thức về xã hội, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân, nhưng với bản tính chây lười lao động, thích hưởng lợi từ sức lao động của người khác, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

4

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Căn cứ Bản án số 33/2016/HSST ngày 26/4/2016 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, bị cáo chưa thi hành phần dân sự, nhưng căn cứ khoản 7 Điều 91 Bộ luật hình sự không xác định bị cáo tái phạm. Trong lần phạm tội này bị cáo trộm 03 lần nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi bị bắt bị cáo khai ra những lần phạm tội trước đó là “Người phạm tội tự thú”. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo trộm của chị Hoàng Thúy V 02 điện thoại di động đã trả được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng hồng trị giá 8.500.000 đồng; Còn lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám trị giá 2.100.000 đồng, chưa trả buộc bị cáo trả bằng giá trị.

- Bị cáo trộm của anh Hoàng Minh T 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen trị giá 3.500.000 đồng, chưa trả buộc bị cáo trả bằng giá trị.

- Bị cáo trộm của chị Hoàng Thúy V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng hồng bán cho anh Nguyễn Bùi T giá 1.800.000đ Cơ quan Công an thu giữ trả lại lại cho chị V nay buộc Minh trả cho anh Tuấn 1.800.000đ.

Về vật chứng vụ án: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu hình sự 200.000đ và án phí dân sự 7.400.000đ x 5% = 370.000đ, để sung quỹ Nhà Nước.

- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về điều luật và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/8/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự, xử:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho chị chị Hoàng Thị Thúy

5

V số tiền 2.100.000 đồng; Bồi thường cho anh Hoàng Minh T số tiền 3.500.000 đồng; Bồi thường cho anh Nguyễn Bùi T số tiền 1.800.000 đồng.

4. Về vật chứng: Không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

- Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 370.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, để sung quỹ Nhà Nước.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2020, đối với, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ