vanban.org

Bản án 77/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 08/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Văn Tiến D phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Văn Tiến D 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền bổ sung bị cáo số tiền 25.000.000 đồng. Giao bị cáo Văn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Văn Tiến D buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Tiến D phạm tội Buôn bán hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2026/HS-ST
Ngày 08/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Hiếu;

2. Bà Nguyễn Thị Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trí Dương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê, Kiểm sát viên.

Ngày 08/5/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2026/TLST-HS ngày 30/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2026/QĐXXST-HS ngày 15/4/2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Văn Tiến D; sinh ngày 15/01/2002; nơi sinh: xã L, tỉnh Hà Tĩnh; thẻ CCCD: 042202008501, cấp ngày 18/3/2023; nơi cư trú: thôn H, xã L, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Đình T (đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 27/12/2025 đến ngày 30/12/2025 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay tại xã L, tỉnh Hà Tĩnh; hiện tại ngoại; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Sỹ Q; sinh năm 1999; nghề nghiệp: kinh doanh; địa chỉ: thôn G, xã L, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

+ Chị Dương Thị D1; sinh năm 1985; nghề nghiệp: buôn bán; địa chỉ: thôn T, xã A, tỉnh Nghệ An; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Bà Hoàng Thị H; sinh năm 1973; nghề nghiệp: làm ruộng; địa chỉ: thôn H, xã L, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 10/2025, Văn Tiến D đi xe buýt từ tỉnh Nghệ An về tỉnh Hà Tĩnh, trên đường đi D nghe một số người trên xe giới thiệu và cho số điện thoại của một người bán pháo nổ tại tỉnh Nghệ An. Khoảng 03 ngày sau, D sử dụng điện thoại Masstel của mình bên trong gắn thẻ sim 0348002791 liên hệ với người bán pháo đặt mua 10 hộp pháo nổ loại 36 quả, do Thái Lan sản xuất, với giá 1.150.000 đồng/hộp, địa điểm giao pháo tại khu vực gần Bệnh viện Ung bướu tỉnh N. Cùng ngày, D bắt xe buýt đi đến địa điểm nói trên, tại đây D trả cho người đàn ông đó số tiền 11.500.000 đồng và nhận 10 hộp pháo rồi bắt xe buýt đi về nhà. Khoảng 10 ngày sau, D sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Dũng P” cài đặt trên điện thoại Iphone 15 Promax của D, đặt mua 02 quả pháo dừa với giá 500.000 đồng/quả, thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt cho nhân viên giao hàng. Số pháo mua được D cất giấu trong nhà ở của mình nhằm mục đích bán lại kiếm lời, cụ thể:

Vào chiều ngày 18/12/2025, anh Nguyễn Sỹ Q, sinh năm 1999, trú tại thôn G, xã L, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng tài khoản Zalo “Gạo”, đăng ký bằng số điện thoại 0848572777 liên hệ với D thông qua tài khoản Zalo “Dũng P” của D, đặt mua 02 hộp pháo nổ loại 36 quả để về sử dụng. D thống nhất với Q giá bán 02 hộp pháo là 3.600.000 đồng, địa điểm giao pháo tại cây xăng dầu xã T cũ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D thuê xe taxi Bách Đại D2 đến khu vực cây xăng dầu xã T cũ, tại đây Q thanh toán bằng tiền mặt cho D2 số tiền 3.600.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, D2 đưa cho Q 01 túi ni lông màu đen bên trong đựng 02 hộp pháo nổ loại 36 quả. Đến ngày 19/12/2025, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Q đã đưa 02 hộp pháo mua của D2 đi vứt tại khu vực bãi biển X, xã L. Ngày 26/12/2025 một người đàn ông không rõ lai lịch gọi vào số điện thoại 0348002791 của D2 đặt mua pháo. D2 và người đàn ông thoả thuận mua bán 05 hộp pháo nổ với giá 1.900.000 đồng/hộp, địa điểm và thời gian giao nhận pháo. Khoảng 19 giờ cùng ngày D2 để 05 hộp pháo vào 02 túi ni lông màu đen rồi nhờ chị Dương Thị D1, sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã A, tỉnh Nghệ An điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C-478.43 của chị D1 chở D2 đưa pháo đến tại ngã ba giao nhau giữa đại lộ M và đường ĐT 547 thuộc xã L để giao cho người đàn ông mua pháo. Khi đến nơi, D2 cầm 02 túi ni lông màu đen đựng 05 hộp pháo bỏ tại khu vực gần kè biển Xuân H1 rồi lên xe chờ người đàn ông đến lấy pháo. Một lúc sau người đàn ông đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đến lấy pháo, nhưng do không đưa đủ tiền nên người đàn ông quay về lấy tiền. Trong lúc chờ người đàn ông quay lại trả tiền, lấy pháo thì D2 bị Công an xã L phát hiện, thu giữ 05 hộp pháo nói trên. Trên đường về trụ sở Công an xã L làm việc, D2 đã vứt chiếc điện thoại Mastel bên trong gắn thẻ sim 0348002791 bên bờ ruộng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Văn Tiến D tại thôn H, xã L, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện và thu giữ 03 hộp pháo nổ và 02 quả pháo dừa. Tại bản Kết luận giám định số 1254/KL-KTHS ngày 29/12/2025 của phòng K Công an tỉnh H kết luận: 08 (tám) khối hộp hình chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi khối hình hộp có kích thước 14x14x12cm, ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn khác nhau và có chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống hình trụ được liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ tính năng của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) có tổng khối lượng 11kg. 02 (hai) vật hình bầu dục màu vàng, mỗi vật có kích thước chiều dài 16cm, đường kính chỗ rộng nhất là 13cm, chỗ hẹp nhất là 5,8cm; trên mỗi vật có gắn dây dẫn màu vàng và màu xanh có kích thước dài 1m (phần dây màu vàng dài 90cm, phần dây màu xanh dài 10cm) gửi giám định là pháo có đầy đủ tính năng của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) có tổng khối lượng 1,8kg. Vật chứng thu giữ: 08 khối hình hộp chữ nhật là pháo nổ có đặc điểm giống nhau, mỗi khối có kích thước 14x14x12cm, được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn khác nhau và có chữ nước ngoài; 03 túi ni lông màu đen; 02 vật hình bầu dục là pháo nổ màu vàng có đặc điểm giống nhau, mỗi vật có kích thước chiều dài 16cm, đường kính chỗ rộng nhất là 13cm, chỗ hẹp nhất là 5,8cm, trên mỗi vật có gắn dây dẫn màu vàng và màu xanh có kích thước dài 1m (phần dây màu vàng dài 90cm, phần dây màu xanh dài 10cm). Số vật chứng này (sau khi trích mẫu giám định), cơ quan điều tra đã chuyển cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H quản lý. 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 promax, màu đen, số IMEI: 356388817707838, IMEI2: 356388817673253, bên trong gắn thẻ sim số 0354123869, cơ quan điều tra đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh quản lý. Số tiền 3.600.000 đồng, Công an tỉnh H đã chuyển khoản ủy nhiệm chi đến số tài khoản 3949.0.1054180.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh mở tại Kho bạc Nhà nước Khu vực XII quản lý. Đối với 02 hộp pháo nổ Nguyễn Sỹ Q mua của bị cáo vào ngày 18/12/2025 để về sử dụng, ngày 19/12/2025 Q đã vứt 02 hộp pháo tại bãi biển X, xã L, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel bên trong gắn thẻ sim 0348002791 mà bị cáo D sử dụng để liên hệ mua 10 hộp pháo của người đàn ông ở tỉnh Nghệ An và bán 05 hộp pháo cho người đàn ông ở khu vực gần kè bờ biển X, sau khi bị phát hiện và đưa về trụ sở Công an xã L làm việc, trên đường đi D đã vứt chiếc điện thoại cùng thẻ sim bên bờ ruộng nên không thu giữ được. Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV ngày 25/3/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh truy tố Văn Tiến D về tội Buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Văn Tiến D từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Phạt tiền bổ sung từ 20 đến 30 triệu đồng. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy đối với số pháo thu giữ, chiếc thẻ sim bị cáo sử dụng để đăng nhập tài khoản Zalo thực hiện hành vi phạm tội; tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại Iphone Promax bị cáo dùng vào phạm tội và số tiền 3.600.000 đồng do phạm tội mà có. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo nhận thức được sai phạm, thể hiện sự ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận các hành vi, quyết định tố tụng trên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Văn Tiến D tự nguyện khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung vụ án trên. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận: Tháng 10/2025, Văn Tiến D mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở tỉnh Nghệ An 10 hộp pháo nổ loại 36 quả với giá 1.150.000 đồng/hộp và 02 quả pháo dừa với giá 500.000 đồng/quả của một người bán trên mạng xã hội Facebook đưa về cất giấu trong nhà ở của mình tại thôn H, xã L, tỉnh Hà Tĩnh nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Đến ngày 18/12/2025 D bán cho Nguyễn Sỹ Q 02 hộp với giá 3.600.000 đồng và ngày 26/12/2025 bán cho người đàn ông không rõ lai lịch 05 hộp với giá 1.900.000 đồng/hộp, trong lúc chờ người đàn ông đến nhận pháo, giao tiền thì bị Công an phát hiện, đưa về trụ sở làm việc cùng tang vật của vụ án. Tiến hành khám xét nhà ở của bị cáo thu giữ 03 hộp pháo nổ và 02 quả pháo dừa. Tổng khối lượng pháo nổ mà bị cáo mua về để bán lại kiếm lời bị thu giữ theo kết luận giám định là 12,8kg.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý các loại hàng hóa cấm kinh doanh, cụ thể là đối với pháo nổ. Pháp luật hiện hành nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ nhằm bảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với loại hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ pháo nổ là hàng hóa bị Nhà nước cấm kinh doanh nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích thu lợi. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV1 ngày 25/3/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo bán 02 hộp pháo nổ cho Nguyễn Sỹ Q nhưng không thu giữ được số pháo để tiến hành trưng cầu giám định và xác định khối lượng nên không có căn cứ xác định hành vi này đủ khối lượng pháo phạm tội, do đó hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”.

Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian 02 năm nhập ngũ tại Sư đoàn 324, Quân khu I, quá trình nhập ngũ được đánh giá hoàn thành tốt các nhiệm vụ, tích cực trách nhiệm trong học tập công tác; hoàn cảnh gia đình bị cáo bố mất sớm, bị cáo con một sống cùng mẹ bị bệnh tật ốm đau được chính quyền địa phương xác nhận đề nghị, nên xem xét cho bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật; có nơi cư trú rõ ràng… Xét thấy việc áp dụng hình phạt tù nhưng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội để bị cáo có điều kiện giáo dục, cải tạo tại địa phương là không ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, do đó việc áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp và cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo vì mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 12,8 kg pháo nổ sau khi trừ mẫu giám định còn lại 11,62 kg là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và chiếc thẻ sim bị cáo sử dụng đăng nhập tài khoản zalo thực hiện hành vi buôn bán pháo không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 promax, màu đen, số IMEI: 356388817707838, IMEI2: 356388817673253 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 3.600.000đ là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật, hình phạt, biện pháp áp dụng và các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng đề nghị là có căn cứ và phù hợp như các nhận định trên nên được chấp nhận.

Những nội dung liên quan khác trong vụ án:

Đối với anh Nguyễn Sỹ Q người mua của bị cáo 02 hộp pháo nổ vào ngày 18/12/2025 để sử dụng, đến ngày 19/12/2025 do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã vứt 02 hộp pháo tại bãi biển X, cơ quan điều tra không thu giữ được. Do không có căn cứ giám định xác định khối lượng và đặc tính pháo nên không có đủ căn cứ để xem xét xử lý hành vi của Nguyễn Sỹ Q.

Đối với chị Dương Thị D1, chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 37C-478.43 chở bị cáo đưa 02 túi ni lông màu đen bên trong chứa 05 hộp pháo đi bán cho người đàn ông không rõ lai lịch, tuy nhiên, khi chở chị D1 không biết bên trong 02 túi ni lông là 05 hộp pháo D đưa đi bán nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Dương Thị D1.

Đối với bà Hoàng Thị H là mẹ đẻ của bị cáo không biết việc bị cáo mua pháo đưa về cất giấu trong nhà để thực hiện hành vi buôn bán, do đó cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý là có căn cứ.

Đối với người đàn ông ở tỉnh Nghệ An bán 10 hộp pháo nổ cho bị cáo. Quá trình điều tra xác định bị cáo sử dụng số điện thoại 0348002791 để liên hệ mua pháo với người này, tuy nhiên, sau khi bị Công an xã L phát hiện, bị cáo đã vứt chiếc điện thoại Masstel cùng thẻ sim nói trên bên bờ ruộng, không thu giữ được nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với người đã bán 02 quả pháo (dừa) nổ cho bị cáo qua mạng xã hội Facebook, do sau khi mua pháo bị cáo đã xoá tài khoản Facebook của người này nên không có thông tin để xác minh làm rõ.

Đối với người đàn ông liên hệ với bị cáo thông qua số điện thoại 0348002791 của bị cáo đặt mua 05 hộp pháo nổ vào ngày 26/12/2025. Quá trình điều tra xác định sau khi bị Công an xã L phát hiện, bị cáo đã vứt chiếc điện thoại Masstel cùng thẻ sim nói trên bên bờ ruộng, không thu giữ được nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Văn Tiến D phạm tội Buôn bán hàng cấm.

2. Xử phạt bị cáo Văn Tiến D 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền bổ sung bị cáo số tiền 25.000.000 đồng.

Giao bị cáo Văn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 08 khối hình hộp chữ nhật là pháo nổ có đặc điểm giống nhau, mỗi khối có kích thước 14x14x12cm, được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, hoa văn khác nhau và có chữ nước ngoài; 03 túi ni lông màu đen; 02 vật hình bầu dục là pháo nổ màu vàng có đặc điểm giống nhau, mỗi vật có kích thước chiều dài 16cm, đường kính chỗ rộng nhất là 13cm, chỗ hẹp nhất là 5,8cm, trên mỗi vật có gắn dây dẫn màu vàng và màu xanh có kích thước dài 1m (Tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2026 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H và Trưởng ban Quân khí, Phòng HC-KT thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 promax, màu đen, số IMEI: 356388817707838, IMEI2: 356388817673253; tịch thu tiêu hủy chiếc thẻ sim gắn trong chiếc điện thoại trên (Tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2026 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.600.000 đồng (Theo Ủy nhiệm chi số chứng từ 158 ngày 10/4/2026 của Công an tỉnh H cho Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh tại Kho bạc nhà nước khu vực X).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ