vanban.org

Bản án 77/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N V C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo N V C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2023. Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong có ghi vụ số 5435, có chứa số ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53/LNK-MT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N V C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST
Ngày 23/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Vân

2. Ông Nguyễn Hoàng Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

N V C, sinh ngày 17/10/2001; tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Tổ x, phường xx, thành phố xx, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: xxxx Đường số x, phường xxx, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N V Ch và bà D T O; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông L T L, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp x, xã xx, huyện xx, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông V A K, sinh năm 1977; địa chỉ: x Nguyễn Thiệu Lâu, phường xx, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ, ngày 19/5/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận 11 đi tuần tra đến trước số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11 phát hiện N V C điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Cuxi biển số 60B8-265 62 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần trước bên trái của Công có một gói giấy bên trong có 01 gói nylon chứa tỉnh thể và 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu cam là ma túy nên đưa Công cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 15, Quận 11 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy, N V C âm tính với các chất ma túy.

Tại bàn Kết luận giám định số 5435 KL-KTHS ngày 26/5 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- Gói 1: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong (ký hiệu m1), bên ngoài có dấu vẫn tay, chữ kỷ ghi tên N V C và hình dấu Công an Phường 15, Quận II là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine; có khối lượng 1,6197g.

- Gói 2: 04 viên nên màu cam trong 01 gói nylon được niêm phong (ký hiệu m2), bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên N V C và hình dấu Công an Phường 15, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, khối lượng 1,4242g.

Tại Cơ quan điều tra, bị can N V C khai nhận: Vào trưa ngày 19/5/2023 bị can C nhận được tin nhắn điện thoại của một người tên Kha nhờ đi giao 01 gói ma túy và 04 viên thuốc lắc cho khách tại địa chỉ x Lê Đại Hành, Phường 15, Quận 11 với giá tiền là 3.500.000 đồng, trong đó bị can C được đối tượng Kha cho số tiền là 200.000 đồng, bị can C đồng ý đi giao ma túy. Khi bị can C đi đến cổng sau quán karaoke Hollywood trên đường Bình Long, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân để nhận ma túy của đối tượng Kha thì đối tượng Kha nhờ 01 người nam không rõ lai lịch đi xe máy đến đưa cho bị can C 01 gói giấy bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể ma túy và 04 viên nén màu cam đều là ma túy. Bị can C cất số ma túy trên vào trong túi quần trước bên trái, điều khiển xe đi đến x Lê Đại Hành, Phường 15, Quận 11 để giao ma túy cho khách. Khi đến trước số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11 thì bị can bị Tổ tuần tra kiểm tra phát hiện bắt giữ như trên. Bị can C và đối tượng Kha quen biết nhau ngoài xã hội. Bị can C không biết rõ lai lịch của đối tượng Kha, không biết nhà ở đâu, chỉ liên lạc qua số điện thoại của đối tượng Kha là 0939435912 và 0707364623. Do cần tiền tiêu xài nên vào ngày 19/5/2023 bị can C đã đồng ý đi giao ma túy cho đối tượng Kha và được hứa trả tiền công là 200.000 đồng, đây là lần đầu bị can C đi giao ma túy cho đối tượng Kha.

Vật chứng của vụ án:

- Hai gói niêm phong có ghi vụ số 5435, có chữ kí giám định viên và cán bộ điều tra, chứa số ma túy còn lại sau giám định.

- Một điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng. Đây là điện thoại bị can C dùng để liên lạc khi bán mà túy.

- Một gói giấy do bị can C sử dụng để bọc ma túy.

- Một xe mô tô hiệu Yamaha Cuxi biển số 60B8-265.62. Đây là phương tiện do bị can C sử dụng để đi bán ma túy. Bị can N V C khai nhận xe trên do bị can mượn của một người bạn tên Hiếu (không rõ lai lịch) để sử dụng. Qua xác minh Công an xác định được chủ sở hữu chiếc xe trên là ông L T L (địa chỉ: Ấp x, xã xx, huyện xx, tỉnh Đồng Nai). Tiến hành làm việc, ông L cho biết có mua và sử dụng chiếc xe trên vào tháng 8/2012. Sau đó, ông L đã bán lại cho người khác vào khoảng năm 2014, xe có giá trị thấp nên không có làm giấy tờ mua bán và ông L không nhớ rõ đã bán cho ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên, hiện chưa có kết quả.

Tại Bản cáo trạng số 77/CT-VKSQ11 ngày 23/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo N V C tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo N V C có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông L T L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

Người làm chứng là ông V A K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo N V C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong có chứa số ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu, tiêu hủy một gói giấy.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng.

- Tiếp tục đăng báo để truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Cũi, biển số 60B8-265.62. Trường hợp quá hạn mà không có ai liên hệ nhận lại tài sản thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 19/5/2023, tại trước nhà số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, bị cáo N V C đã có hành vi bán ma túy cho một người (chưa xác định được lai lịch) với số lượng là 1,6197 gam ma túy loại Ketamine và 1,4242 gam ma túy loại MDMA.

Hành vi của bị cáo N V C đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo N V C thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích giúp sức cho đối tượng tên Kha (chưa xác định được lai lịch) để hưởng tiền công là 200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo N V C đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Căn cứ khoản 2, Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 251, 252 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của các chất ma túy trong vụ án này là 36,5825%. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo N V C thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là hai gói niêm phong có ghi vụ số 5435, có chứa số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là một gói giấy là vật do bị cáo dùng để chứa đựng ma túy, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng do bị cáo C dùng để liên lạc khi bán ma túy là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Yamaha Cuxi biển số 60B8-265.62 là phương tiện bị cáo C dùng để đi bán ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Bị cáo N V C khai nhận xe trên do bị cáo mượn của một người bạn tên Hiếu (không rõ lai lịch) để sử dụng. Qua xác minh Công an xác định được chủ sở hữu chiếc xe trên là ông L T L (địa chỉ: Ấp x, xã xx, huyện xx, tỉnh Đồng Nai). Tiến hành làm việc, ông L cho biết có mua và sử dụng chiếc xe trên vào tháng 8/2012. Sau đó, ông L đã bán lại cho người khác vào khoảng năm 2014, xe có giá trị thấp nên không có làm giấy tờ mua bán và ông L không nhớ rõ đã bán cho ai. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xem xét đối với khoản thu lợi bất chính và việc phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo xác định được đối tượng Kha hứa cho 200.000 đồng khi giao ma túy thành. Bị cáo chưa được đối tượng Kha cho số tiền trên; do đó, Hội đồng xét xử không buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.

Do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành khoản nộp phạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên Kha người đã đưa số ma túy cho bị cáo C đem đi bán, hiện nay chưa xác định được lai lịch, khi nào truy tìm được sẽ tiến hành xử lý sau.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo N V C, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo N V C;

Tuyên bố bị cáo N V C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo N V C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2023.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong có ghi vụ số 5435, có chứa số ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53/LNK-MT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một gói giấy (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53/LNK-MT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53/LNK-MT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô hiệu Yamaha Cuxi biển số 60B8-265.62. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 53/LNK-MT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ