- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 77/2023/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 24/05/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh H Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Anh Thư.
2. Ông Lê Văn Quý.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Phạm Thị Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang – Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận 1. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn T. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam, sinh ngày: 14/4/1992. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên - Cha: Vô danh; họ tên - Mẹ: Đặng Xuân T sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Nhân thân:
- Ngày 16/7/2010, bị Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 2445/QĐUB về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 03/9/2013, bị Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 959/QĐUB về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 24/6/2020, bị Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 340/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 20 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 11/01/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an Quận 1.
Bị hại:
1. Trương Văn S, sinh năm: 2002- (vắng mặt);
Địa chỉ: phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bùi Huy H, sinh năm: 1989- (vắng mặt);
Địa chỉ: phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Tiêu Kiều L, sinh năm: 1999- (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp chợ xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
2. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm: 1957- (vắng mặt);
Địa chỉ: Phường 12, Quận 06, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng:
1. Ông Lưu Quốc Đ, sinh năm: 1991- (vắng mặt);
Địa chỉ: xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ ngày 06/01/2023, thông qua Lưu Quốc Đ, Hồ Linh S (sinh ngày: 17/7/2007) mượn xe mô tô hai bánh hiệu Honda, loại Air Blade, biển số: 59K1 – 742.28 của chị Tiêu Kiều L để sử dụng. Sau khi mượn được xe, S rủ Đặng Văn T tham gia trộm cắp xe mô tô nên T đồng ý tham gia và thống nhất việc T là người điều khiển xe chở S đi tìm xe mô tô để trộm cắp, khi phát hiện tài sản thì bị can T là người trực tiếp dùng bộ đoản bẻ khóa, lấy trộm xe, còn S là người cảnh giới.
Thực hiện ý định trên khoảng 04 giờ 20 phút cùng ngày, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28 chở Hồ Linh S đến trước nhà số D35Bis Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 thì phát hiện thấy nhiều xe mô tô đậu trước cửa nhà, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này xuống xe, đi đến dùng bộ đoản mang theo (thanh kim loại có đầu nhọn) bẻ khóa, lấy trộm được xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 của anh Trương Văn S sau đó điều khiển bỏ đi, còn S khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28. Sau đó, T để xe mô tô biển số: 47AB – 513.51 vừa chiếm đoạt được ngay đầu hẻm 245 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28 chở S quay lại trước nhà số D35Bis Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. T tiếp tục xuống xe, đi đến dùng bộ đoản bẻ khóa, lấy trộm được xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 của anh Bùi Huy H. Do xe không nổ máy được nên T ngồi lên, dùng chân đẩy xe đi được khoảng 05 mét thì đưa cho S điều khiển, Tuấn điều khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28 dùng chân đẩy xe mô tô biển số: 67M1 – 441.65 do S điều khiển đi đến Bệnh viện Từ Dũ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để gửi xe mô tô biển số: 67M1 – 441.65 chiếm đoạt được của anh H vào bãi xe Bệnh viện Từ Dũ. Sau đó, cả hai quay lại đầu hẻm 245 Nguyễn Trãi, Tuấn điều khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28 cùng S điều khiển xe mô tô biển số: 47AB – 513.51 chiếm đoạt được của anh S chạy về khách sạn Khanh Vy, số 63-65 Trần Văn Kiểu, Phường 10, Quận 6 cất giữ.
Sau khi chiếm đoạt được 02 xe môtô trên, T nói cho Lưu Quốc Đ biết việc T và S vừa trộm cắp được xe mô tô biển số: 47AB – 513.51 và xe mô tô biển số: 67M1 – 441.65. Sau đó, T nhờ Đ cùng đi với mình đến gửi xe mô tô biển số: 47AB – 513.51 tại Bệnh viện Quận 6, Đ đồng ý nên Đ điều khiển xe mô tô biển số: 59K1 – 742.28 đi cùng Tuấn đến Bệnh viện Quận 6. Sau đó, T gửi xe mô tô biển số: 47AB – 513.51 vào bãi xe Bệnh viện Quận 6 rồi nhờ Đ chở đến bãi xe Bệnh viện Từ Dũ nhưng không lấy xe mô tô biển số: 67M1 – 441.65 ra khỏi bãi xe được do S là người gửi xe nên Đ chở T về lại khách sạn Khanh Vy.
Đến khoảng 09 giờ ngày 06/01/2023, anh S và anh H phát hiện bị mất trộm hai xe mô tô trên nên đến trình báo tại Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thụ lý.
Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 phát hiện Đ, L, T, đang ở tại phòng 301, lầu 3, khách sạn Khanh Vy nên đưa về Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 làm rõ hành vi đồng thời thu giữ 02 xe mô tô biển số: 67M1 – 441.65 và xe mô tô biển số: 47AB – 513.51.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận 01 xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 có tổng trị giá 21.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Đặng Văn T và Hồ Linh S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T và S phù hợp với lời khai bị hại, biên bản đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu thập được.
Theo Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận:
- Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 và 01(một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 có tổng trị giá 21.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1, Đặng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên, lời khai của T phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-Q1 ngày 26/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng rất nhiều bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này, bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, quá trình Điều tra và tại Phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng thu giữ:
- Đối với 01(một) xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 (đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Trương Văn S, anh S không có yêu cầu gì về dân sự) nên đề nghị không xem xét.
- Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 (đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Bùi Huy H, anh H không có yêu cầu gì về dân sự) nên đề nghị không xem xét.
- Đối với 01(một) xe môtô hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 59K1 – 742.28. Qua xác minh do bà Nguyễn Thị Thu V (sinh năm: 1957; địa chỉ: 995/80/30 Hồng bàng, phường 12, Quận 6, Tp. Hồ chí Minh) đứng tên sở hữu. Sau đó, bà V cho chị Tiêu Kiều L thuê lại để sử dụng, bà V không biết việc T và S sử dụng chiếc xe này làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại xe môtô trên cho chủ sở hữu là bà V.
- Đối với 01(một) USB ghi nhận hình ảnh vụ việc là chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ.
Thu giữ của bị cáo Đặng Văn T:
- Đối với 01(một) đoạn kim loại dài khoảng 10cm, có quấn băng keo đen; 02 đoạn kim loại dài khoảng 06cm, có đầu nhọn (là công cụ mà T sử dụng để phá khoá thực hiện hành vi trộm cắp) nên tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01(một) áo dài tay màu xám; 01 (một) quần dài màu xanh (là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
Thu giữ của Hồ Linh S:
Đối với 01(một) 01 áo dài tay màu xanh; 01 quần dài màu xanh (là trang phục S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ vật chứng trên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2023,… nên có đủ căn cứ Kết luận: Vào khoảng 04 giờ 20 phút và 04 giờ 25 phút cùng ngày 06/01/2023 tại trước nhà số D35Bis Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Đặng Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 của anh Trương Văn S và 01(một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 của anh Bùi Huy H có tổng trị giá 21.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trị an tại địa phương. Về nhân thân, tiền án tiền sự, bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc vì hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy, nên cần có mức án thật nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tiền án, tiền sự: Ngày 24/6/2020, bị Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 340/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 20 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tiền án không.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với Hồ Linh S (sinh ngày: 17/7/2007) là người trực tiếp rủ và tham gia thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 và xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 cùng với Đặng Văn T. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội S dưới 16 tuổi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Điều tra không xử lý hình sự đối với S là có căn cứ.
- Đối với Lưu Quốc Đ có hành vi biết việc T và S trộm cắp xe môtô và chở T đi gửi và lấy xe mô tô do T và S sau khi đã thực hiện hành vi trộm cắp mà có. Do giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 21.500.000 VNĐ, hành vi của T và S thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên không đủ căn cứ xử lý Đ về hành vi “Che giấu tội phạm” và “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 389 và 390 Bộ luật hình sự. Qua test ma tuý, Đ dương tính nên Công an phường lập hồ sơ đưa đi cai nghiện theo quy định.
- Đối với Tiêu Kiều L là người cho T và S mượn sử dụng xe mô tô biển số 59K1 – 742.28 nhưng không biết việc T và S sử dụng xe môtô trên thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là có sơ sở. Qua test ma tuý, L dương tính nên Công an phường lập hồ sơ đưa đi cai nghiện theo quy định.
. Về yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
- Đối với 01(một) xe mô tô hai bánh hiệu SYM, loại Elegant, biển số: 47AB – 513.51 đã thu hồi và trả lại cho người bị hại là anh Trương Văn S. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, biển số: 67M1 – 441.65 đã thu hồi và trả lại cho người bị hại là anh Bùi Huy H. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 59K1 – 742.28. Qua xác minh do bà Nguyễn Thị Thu V (sinh năm: 1957; địa chỉ: 995/80/30 Hồng bàng, phường 12, Quận 6, Tp. Hồ chí Minh) đứng tên sở hữu. Sau đó, bà V cho chị Tiêu Kiều L thuê lại để sử dụng, bà V không biết việc T và S sử dụng chiếc xe này làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 đã trả lại xe môtô trên cho chủ sở hữu là bà V.
Thu giữ của bị cáo Đặng Văn T:
- Đối với 01(một) đoạn kim loại dài khoảng 10cm, có quấn băng keo đen; 02 đoạn kim loại dài khoảng 06cm, có đầu nhọn (là công cụ mà T sử dụng để phá khoá thực hiện hành vi trộm cắp) nên tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01(một) áo dài tay màu xám; 01 (một) quần dài màu xanh (là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
Thu giữ của Hồ Linh S:
Đối với 01(một) 01 áo dài tay màu xanh; 01 quần dài màu xanh (là trang phục S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và các đương sự khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”:
Tuyên bố Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 24/5/2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Đối với 01(một) đoạn kim loại dài khoảng 10cm, có quấn băng keo đen; 02 đoạn kim loại dài khoảng 06cm, có đầu nhọn (là công cụ mà T sử dụng để phá khoá thực hiện hành vi trộm cắp) nên tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01(một) áo dài tay màu xám; 01 (một) quần dài màu xanh (là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01(một) 01 áo dài tay màu xanh; 01 quần dài màu xanh (thu giữ của Hồ Linh S, là trang phục S mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dung nên tịch thu tiêu huỷ.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 49/2023/PNK-THAHS ngày 03/03/2023 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Q.1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án.(TK Minh Anh). HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh H Vương Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh H Vương |