vanban.org

Bản án 77/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chấp hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Trung T phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử dụng t…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 77/2023/HS-ST
Ngày: 27-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Nguyễn Hồng Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung T – sinh năm 1997, tại Đồng Nai

Nơi đăng ký thường trú: Ấp BM, xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp NL 3, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới Th: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Toàn T – sinh năm 1952 và bà Đinh Thị G – sinh năm 1965; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/7/2018, bị Công an huyện Tân Phú xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 293/QĐ-XPVPHC; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023 (Có mặt)

- Người làm chứng: (Vắng mặt)

1/ Chị Trần Thị K – sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp PL4, xã PS, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

2/ Anh Trần Quốc Đ – sinh năm 2003

Địa chỉ: Ấp NL1, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

3/ Cháu Nguyễn Khánh D – sinh ngày 17/10/2007

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị H – sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp PL, xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 35 phút ngày 28/02/2023, tại phòng trọ số 02, nhà trọ của ông Ngô Văn T thuộc ấp NL 3, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Công an xã PX, huyện Tân Phú phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trung T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 hộp kim loại, bên trong có 01 cục chất rắn màu trắng được quấn bên trong 01 tờ giấy bạc (được thu giữ trong bịch lúa đặt ở trước cửa phòng trọ số 03) (ký hiệu M1); 01 bộ đồ tự chế dùng để sử dụng ma túy - nỏ (được thu giữ tại vị trí góc tường trong phòng trọ số 02) (ký hiệu M2); 03 điện thoại di động; 01 xe mô tô; 01 xe gắn máy. Đối với các mẫu ký hiệu M1, M2 đã được niêm phong bảo quản theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 07/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Để Nai kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám đinh là ma túy, có khối lượng 0,1575 gam, loại Heroin (Heroine). Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0087 gam, loại Methamphetamine.”.

Quá trình điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị can như sau:

Nguyễn Trung T và Trần Thị K là người nghiện ma túy, chung sống với nhau như vợ chồng tại phòng trọ số 02, nhà trọ của ông Ngô Văn T thuộc ấp NL 3, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vào khoảng 12 giờ ngày 27/02/2023, T nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho 01 người phụ nữ tên Trang (hiện chưa rõ lai lịch) có tài khoản tên “Cuộc Sống Mới” để xin ma túy về sử dụng thì được Trang đồng ý. Trang và T hẹn gặp nhau tại khu vực gần Trung tâm Y tế huyện Tân Phú. Tại đây, Trang đưa cho T 01 gói ma túy loại Methamphetamine và 01 gói ma túy loại Heroin. Sau khi nhận ma túy, T mang về cất gói ma túy loại Methamphetamine tại phòng trọ của mình, còn gói ma túy loại Heroin thì T cất giấu tại phòng trọ số 3 đều thuộc dãy nhà trọ tại ấp NL 3, xã PX. Buổi chiều ngày 28/02/2023, T và K đang ở phòng trọ thì T lấy ra 01 gói ma túy Methamphetamine đổ vào bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy sau đó đốt lên rồi T và K cùng nhau sử dụng. Sử dụng xong, T cất dụng cụ tự chế vào góc tường, lúc này có Nguyễn Khánh D đến, D thấy ở góc tường có bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy thì D xin T sử dụng thì được T đồng ý. Thấy D sử dụng ma túy thì T và K tiếp tục sử dụng. T, K, D sử dụng ma túy xong thì nằm chơi. Một lúc sau, Trần Quốc Đ đến, Đ hỏi sử dụng ma túy thì T đồng ý. Khi Đ sử dụng xong thì T, K, D tiếp tục sử dụng ma túy thì bị Công an xã PX phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày. Quá trình bắt quả tang, cơ quan công an thu giữ được 01 gói ma túy loại Heroin ở khu vực phía phía trước cửa phòng trọ số 03. Đối với gói ma túy này, Nguyễn Trung T khai nhận cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy tại Trạm Y tế xã PX đối với Nguyễn Trung T, Trần Thị K, Nguyễn Khánh D, Trần Quốc Đ thì xác định tất cả các đối tượng trên đều dương Th với chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 82/CT-VKSTP-ĐN ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án: Từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong số 424/KL- KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy sau giám định, 01 hộp kim loại và 01 dụng cụ sử dụng ma túy là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh là công cụ, phương tiện phạm tội. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận, nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản xét nghiệm chất ma túy, Biên bản trích xuất nội dung dữ liệu điện thoại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh, Kết luận giám định... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào 15 giờ 30 phút ngày 28/02/2023, tại ấp NL 3, xã PX, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trung T có hành vi cung cấp trái phép ma túy, dụng cụ, địa điểm tổ chức cho Trần Thị K, Trần Quốc Đ và Nguyễn Khánh D (Th đến ngày 28/02/2023 mới 15 tuổi 04 tháng 11 ngày nên là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã PX phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, Nguyễn Trung T còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng với khối lượng 0,1575 gam loại Heroin (Heroine) và 0,0087 gam loại Methamphetamine.

Hành vi của Nguyễn Trung T đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; ngoài ra còn xem xét gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 20/7/2018, bị Công an huyện Tân Phú xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng lại nghiện ma túy. Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm tổ chức cho Trần Thị K, Trần Quốc Đ và Nguyễn Khánh D (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy, với lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với Th chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cách ly đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 424/KL- KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy sau giám định, 01 hộp kim loại và 01 dụng cụ sử dụng ma túy là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen và 01 xe gắn máy biển số 60AC-071.01 không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu, người quản lý sử dụng hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo khai nhận người phụ nữ tên “T” đã cung cấp ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch và chưa lấy được lời khai nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Thị K, Nguyễn Khánh D, Trần Quốc Đ là người sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự;

- Áp dụng Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chấp hành tổng hợp hình phạt chung là 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Th từ ngày 28/02/2023.

2. Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 424/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy sau giám định, 01 hộp kim loại và 01 dụng cụ sử dụng ma túy; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ