- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trường Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 23-4-2019 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2019/HS-PT Ngày 10-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Ông Nguyễn Văn Tông;
+ Ông Lâm Văn Be.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 84/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Trường Kh do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Trường Kh, sinh năm: 1982, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT: Ấp BC, xã TĐ, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp TH, xã TM, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Phước H và bà Huỳnh Thị Kim Ng; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 30-12-2011 bị Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2019 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố X, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị A Thị D, sinh năm 1986; địa chỉ: Đường H, Phường T, thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Trường Kh làm công nhân trong Công ty TNHH Can Sports Việt Nam. Do không có tiền tiêu xài nên Kh nảy sinh ý định trộm xe mô tô của những người làm công nhân chung trong công ty để bán. Vào khoảng 14 giờ ngày 13-11-2018, Kh đi đến bàn số 34 thuộc xưởng F4 của công ty để uống nước thì phát hiện có một túi xách màu đen, bên trong túi xách có chìa khóa xe và thẻ xe của chị Đặng Thị L, sinh năm 1978, ngụ khu phố X, thị trấn Y, huyện Z, tỉnh Bình Dương để trên bàn làm việc (bàn số 34). Lúc này, Kh lén lút lấy trộm thẻ xe và chìa khóa xe của chị L và về xưởng F4 làm việc bình thường. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Kh ra nhà xe của Công ty tìm xe mô tô của chị L thông qua biển số xe ghi trên thẻ xe. Sau khi tìm được, Kh dùng chìa khóa xe và thẻ xe để lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NOZZA, màu trắng, biển số 61H1-089.14 điều khiển rời khỏi Công ty đến khu vực thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thì được người thanh niên tên Tý (không rõ họ tên và địa chỉ) dẫn sang Campuchia cầm cố được số tiền 7.500.000 đồng, Kh đưa cho Tý 1.800.000 đồng, còn lại số tiền 5.700.000 đồng, Kh thuê xe ôm về nhà trọ hết 300.000 đồng, tiêu xài hết 900.000 đồng và đưa cho chị A Thị D số tiền 4.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Huỳnh Trường Kh đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Kết luận định giá tài sản số 56/KLĐG-HĐĐG ngày 28-11-2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NOZZA, màu trắng, biển số 61H1-089.14 đăng ký lần đầu vào ngày 21-12-2011, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 13/11/2018 có giá trị 7.100.000 đồng.
* Kê biên tài sản: Huỳnh Trường Kh không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
* Trách nhiệm dân sự: Chị Đặng Thị L đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 23-4-2019 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trường Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường Kh 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 02-5-2019, bị cáo Huỳnh Trường Kh có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với các lý do sau: Bản thân chưa có tiền án, tiền sự luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật của Nhà nước; đã nhận ra khuyết điểm và thành thật ăn năng hối cải, thành khẩn khai báo.
Tại phiên tòa bị cáo Kh giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 23-4-2019 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Lời nói sau c ng của bị cáo: in Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Kh thừa nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo Kh làm công nhân tại Công ty TNHH Can Sports Việt Nam, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Kh đã lén lút trộm cắp của chị Đặng Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NOZZA, màu trắng, biển số 61H1-089.14 có giá trị 7.100.000 đồng. Cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Trường Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của chị L được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Xét kháng cáo của bị cáo Kh xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo thấy rằng: Bị cáo làm công nhân, có việc làm và thu nhập ổn định. Do muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao đông nặng nhọc nên bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị L (là đồng nghiệp người làm chung công ty với bị cáo) để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Việc bị cáo trộm cắp xe máy là phương tiện đi làm hàng ngày của chị L, dẫn đến chị L không có phương tiện đi làm phải nghỉ việc ở công ty.
Khi xem xét áp dụng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 09 tháng t là không nặng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Kh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 23-4-2019 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trường Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường Kh 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Huỳnh Trường Kh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TN; - Sở Tư pháp tỉnh; - Phòng KTNV TAND tỉnh; - Phòng PV27 CA tỉnh; - TAND huyện; - CCTHADS huyện; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Bị cáo; - Tòa Hình sự; - Lưu HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hữu Chiến |