vanban.org

Bản án 77/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 22/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc G 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2017. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc G can tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________
Bản án số: 77/2017/HSST
Ngày 22/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Hà Văn Châu

2/ Ông Phan Văn Tạo

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2017/HSST ngày 24/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1969; Nơi thường trú: Số 233/44E đường Nguyễn Văn C, Khu vực 4, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Nơi tạm trú: Số 256/29/9 đường Nguyễn Văn C, Khu vực 4, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Con ông Nguyễn Văn U, và bà Nguyễn Thị H; Vợ tên Nguyễn Kim L; Tiền án: 01 lần, vào ngày 22/9/2003, bị Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 17/01/2009 bị cáo chấp hành xong hình phạt đến nay đã được xóa án tích. Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 27/06/2017. (có mặt)

* Người bị hại: Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số 113 đường T, Khóm 4, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Số 233/44E đường Nguyễn Văn C, Khu vực 4, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

* Người làm chứng: Bà Lâm Thị Thu L, sinh năm 1968; Nơi cứ trú: Số 172 đường L, Khóm 1, Phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Ngọc G bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/5/2017, G điều khiển xe mô tô mang biển số 83D1-035.09 chở khách vào Trường Tiểu học P ở Số 263/1 đường P, Khóm 3, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và cho khách xuống, G dựng xe và đi xung quanh sân trường, thì lúc này G nhìn thấy chị Nguyễn Ngọc M điều khiển xe mô tô mang biển số 83S3-0115, loại xe SH, chở con vào trường học, chị M dựng xe trong sân trường và đưa con vào lớp học, G đi đến chỗ xe của chị M, phát hiện yên xe của chị M không khóa, nên G nẩy sinh ý định lấy trộm tài sản bên trong cốp xe. Với ý định đó, G lấy cái áo khoác và đi đến nơi xe của chị M dùng tay trái mở yên xe lên, dùng tay phải đưa vào bên trong lấy được 01 chiếc túi xách màu đỏ nhãn hiệu Vascara, bên trong túi có đựng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, loại 128G, có ốp lưng màu xanh, tiền Việt Nam 600.000đ, 01 dây chuyền kim loại và một số giấy tờ khác, G lấy áo khoác che túi xách lại nhằm không cho người khác phát hiện. Sau khi lấy được tài sản G lấy xe điều khiển chạy về thành phố Cần Thơ. Trên đường chạy đi G kiểm tra bên trong chiếc túi xách của chị M có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, loại 128G, có ốp lưng màu xanh, tiền Việt Nam 500.000đ, 01 dây chuyền kim loại và một số giấy tờ khác. G lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus và 500.000đ bỏ vào túi quần, và quăng bỏ chiếc túi xách, ốp lưng điện thoại, dây chuyền và các giấy tờ khác bỏ, G tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về thành phố Cần Thơ, khi về đến khu vực dốc cầu Cái Răng, thuộc quận C, thành phố Cần Thơ, G lấy điện thoại bán cho một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ với giá 3.500.000đ, G lấy tiền có được từ việc bán điện thoại cho vợ là Nguyễn Thị Kim L với số tiền là 300.000đ và cho cháu là Đỗ Tấn V với số tiền là 900.000 đ, số tiền còn lại G tiêu xài cá nhân hết. Còn chị M sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến công an Phường 2, thành phố S trình báo sự việc, quá trình điều tra mời làm việc, thì G đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 92/KL.ĐGTS ngày 27/5/2017 của của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố S kết luận: Một Iphone 6S Plus, màu hồng, loại 128G, có model: A1634 đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 85%, với giá trị là 01 x 14.290.000đ x 85% = 12.146.500đ.

Đối với 01 túi xách hiệu Vascara màu đỏ, 01 dây chuyền kim loại, 01 ốp lưng điện thoại, do G không nhớ rõ địa điểm quăng bỏ, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên không định giá số tài sản được.

Tại Cáo trạng số 64/QĐ- KSĐT ngày 23/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm b, g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu trắng và 01 áo khoác màu đen có sọc trắng đen đỏ, có chữ Milma.

- Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim L: 01 xe Yamaha, màu đỏ đen biển số 83D1-035.09 và 01 giấy đăng ký xe tên Phạm Thị Diễm T.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc G: 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Ngọc G.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc G thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai cho bị cáo. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc G đã khai nhận:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/5/2017, bị cáo chở khách xuống Trường Tiểu học P ở Số 263/1 đường P, Khóm 3, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, khi bị cáo dừng xe đi xung quanh trường thì nhìn thấy chị Nguyễn Ngọc M điều khiển xe mô tô mang biển số 83S3-0115, loại xe SH, chở con vào trường học rồi dựng xe trong sân trường và đưa con vào lớp học, bị cáo mới đi lại chỗ xe của chị M thì phát hiện yên xe không khóa nên lén lút dùng tay trái mở yên xe lên rồi dùng tay phải đưa vào bên trong lấy trộm được 01 chiếc túi xách màu đỏ nhãn hiệu Vascara bên trong túi có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, loại 128G qua định giá có giá trị là 12.146.500 đ và tiền Việt Nam 500.000đ rồi điều khiển xe chạy về thành phố Cần Thơ. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.646.500đ.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình Điều tra, phù hợp với lời khai của nhưng người tham gia tố tụng khác cùng như các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường cho người bị hại được số tiền là 1.500.000đ; tài sản kịp thời thu hồi trả cho người bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, g, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường xong không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vật chứng vụ án thu được:

- 01 đôi dép nhựa màu trắng;

- 01 áo khoác màu đen có sọc trắng đen đỏ, có chữ Milma.

- 01 xe Yamaha, màu đỏ đen biển số 83D1-035.09;

- 01 giấy đăng ký xe tên Phạm Thị Diễm T.

- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Ngọc G.

Xét thấy, cần xử lý vật chứng như sau:

- Đối với 01 đôi dép nhựa màu trắng và 01 áo khoát màu đen có sọc trắng đen đỏ là của bị cáo dùng làm công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 83D1-035.09 và giấy đăng ký xe là của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan L việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội thì bà không biết nên cần trả cho bà L.

- Đối với giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Ngọc G là của cá nhân bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo G.

Về án hình sự: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Xét thấy, lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chập nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo mức án khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm b, g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41; Điều 42 của Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc G 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu trắng và 01 áo khoác màu đen có sọc trắng đen đỏ, có chữ Milma.

- Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim L: 01 xe Yamaha, màu đỏ đen biển số 83D1-035.09 và 01 giấy đăng ký xe tên Phạm Thị Diễm T.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc G: 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Ngọc Giàu.

4. Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng);

Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ