vanban.org

Bản án 76/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 07/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội Tổ chức đánh bạc.

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L 70 (Bảy mươi) triệu đồng. (Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đã nộp số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo biên lai số 0003432 ngày 27/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội Tổ chức đánh bạc. - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội Tổ chức đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HSST
Ngày: 07/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

THnh phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Thanh Vũ

Ông Nông Văn Vụ

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và 07 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/8/1982; Nơi sinh: huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Ngọc Lậu 1, xã Đ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: tổ 04, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 PT; Con ông: Trần Ngọc L - sinh năm 1952; Con bà: Lê Thị Q - sinh năm 1957 (cùng trú tại: xóm Ngọc Lậu 1, xã Đ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa); Vợ: Phạm Thị K (đã ly hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con thứ hai sinh năm 2011; Anh chị em ruột: gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/8/2022 Công an thành phố Cao Bằng xử phạt 6.500.000đ ((sáu triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi Cố ý gây thương tích.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/12/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoàng L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 11/5/1982; Nơi sinh: thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ 03, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12 PT; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên; Con ông: Hoàng Quốc H - sinh năm 1959; Con bà: Nông Thị N - sinh năm 1959 (cùng trú tại: tổ 03, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Chồng: Phạm Sỹ H - sinh năm 1979 (trú tại: tổ 03, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con thứ hai sinh năm 2016; Anh chị em ruột: gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/12/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/6/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiếp nhận và giải quyết tố giác về tội phạm vụ việc Trần Ngọc H có Hnh vi gây thương tích cho người khác. Quá trình giải quyết tin báo, cơ quan điều tra phát hiện trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020 của Trần Ngọc H có 35 tin nhắn trong điện thoại và trong ứng dụng zalo về việc mua số lô, số đề với nhiều người (01 người sử dụng số thuê bao 0866.048.249; 01 người sử dụng số thuê bao 0878.603.422 H lưu tên là “Vahao”; 01 người sử dụng tài khoản zalo có tên “H”; 01 người sử dụng tài khoản zalo có tên “Bùi Đức T”; 01 người sử dụng tài khoản zalo có tên “T”) trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2022 nên đã tạm giữ của H chiếc điện thoại trên. Qua xác minh, cơ quan điều tra xác định người sử dụng số thuê bao 0866.048.249, 0878.603.422 và tài khoản zalo có tên "H" là Nguyễn Thị Hoàng L.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối năm 2020, Trần Ngọc H quen biết Nguyễn Thị Hoàng L và nhờ L ghi giúp số lô, số đề. Trước đó trong một lần ngồi ở quán nước gần nhà, L biết số điện thoại của chủ đề nên đồng ý nhận số lô, số đề từ H và chuyển cho chủ đề đó để hưởng phần trăm chênh lệch. H sử dụng điện thoại Oppo A5 2020 được lắp sim số 0912.184.682 và tài khoản zalo có tên "Ngọc H" được đăng ký bởi số thuê bao trên để nhắn tin qua tin nhắn điện thoại và ứng dụng zalo đến số thuê bao 0878.603.422 và tài khoản zalo có tên "H" được đăng ký bởi số thuê bao 0866.048.249 của L. Nhất trí nhận số lô, số đề từ H, L sẽ nhắn tin trả lời "OK" hoặc bày tỏ cảm xúc vào tin nhắn của H, sau đó chuyển toàn bộ số lô, số đề đó cho chủ đề qua tin nhắn điện thoại.

Hình thức chơi số lô, đề như sau: Đối với số đề, H chọn các số từ 00 đến 99, nếu số đề H mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 70 lần số tiền đã mua. Đối với số lô, H chọn các số từ 00 đến 99, nếu số lô H mua trùng với hai số cuối của một trong 27 giải Kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) trên 01 điểm lô, nếu không trúng H sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô, số đề trước đó. L nhận số đề của H với giá 80% tổng số tiền mua số đề và 23.000đ (hai mươi ba nghìn đồng) trên một điểm lô rồi chuyển cho chủ đề 74% tổng số tiền đề và 22.500đ (hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) trên 01 điểm lô và được hưởng lợi 6% số tiền đề và 500đ (năm trăm đồng) trên 01 điểm lô. Đối với số tiền thắng, thua, sau một khoảng thời gian L và H sẽ thanh toán cho nhau bằng cách chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Đối với chủ đề, khi số tiền thắng thua trên 10.000.000đ, chủ đề sẽ thuê một người lạ mặt đến trao đổi tiền thắng thua với L.

Trong năm 2020 đến tháng 8/2021, H đã nhắn tin mua số lô, số đề với L 32 lần với tổng số tiền 377.220.000đ (ba trăm bảy mươi bảy triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng), bao gồm số tiền mua số lô, số đề là 206.220.000đ (hai trăm linh sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền trúng thưởng là 171.000.000đ (một trăm bảy mươi mốt triệu đồng), cụ thể:

1. Ngày 28/12/2020: H mua số đề hết 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 28/12/2020 là 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng);

2. Ngày 29/12/2020: H mua số đề hết 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 29/12/2020 là 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng);

3. Ngày 03/01/2021: H mua số đề hết 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 03/01/2021 là 5.000.000đ (năm triệu đồng);

4. Ngày 04/01/2021: H mua số đề hết 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/01/2021 là 4.900.000đ (bốn triệu chín trăm nghìn đồng);

5. Ngày 25/7/2021: H mua số đề hết 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 25 điểm lô tương đương 2.000.000đ (hai triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 25/7/2021 là 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng);

6. Ngày 26/7/2021: H mua số đề hết 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 350 điểm lô tương đương 8.050.000đ (tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). H trúng thưởng 50 điểm lô tương đương 4.000.000đ (bốn triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 26/7/2021 là 12.350.000đ (mười hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng);

7. Ngày 27/7/2021: H mua số đề hết 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và 300 điểm lô tương đương 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền đề và 200 điểm lô tương đương 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 27/7/2021 là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng);

8. Ngày 28/7/2021: H mua số đề hết 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 75 điểm lô tương đương 6.000.000đ (sáu triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 28/7/2021 là 11.200.000đ (mười một triệu hai trăm nghìn đồng);

9. Ngày 29/7/2021: H mua số đề hết 1.000.000đ (một triệu đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 29/7/2021 là 1.000.000đ (một triệu đồng)

10. Ngày 30/7/2021: H nua số đề hết 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 300 điểm lô tương đương 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 50 điểm lô tương đương 4.000.000đ (bốn triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 30/7/2021 là 11.200.000đ (mười một triệu hai trăm nghìn đồng);

11. Ngày 31/7/2021: H mua số đề hết 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) và 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 31/7/2021 là 6.250.000đ (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng);

12. Ngày 01/8/2021: H mua số đề hết 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 300 điểm lô tương đương 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền đề và 125 điểm lô tương đương 10.000.000đ (mười triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 01/8/2021 là 20.800.000đ (hai mươi triệu tám trăm nghìn đồng);

13. Ngày 02/8/2021: H mua số đề hết 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 400 điểm lô tương đương 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 25 điểm lô tương đương 2.000.000đ (hai triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 02/8/2021 là 11.600.000đ (mười một triệu sáu trăm nghìn đồng);

14. Ngày 03/8/2021: H mua số đề hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 400 điểm lô tương đương 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền đề và 400 điểm lô tương đương 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 03/8/2021 là 45.400.000đ (bốn mươi năm triệu bốn trăm nghìn đồng);

15. Ngày 04/8/2021: H mua số đề hết 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2021 là 5.000.000đ (năm triệu đồng);

16. Ngày 05/8/2021: H mua số đề hết 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 25 điểm lô tương đương 2.000.000đ (hai triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 05/8/2021 là 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng);

17. Ngày 06/8/2021: H mua số đề hết 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 50 điểm lô tương đương 4.000.000đ (bốn triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 06/8/2021 là 9.000.000đ (chín triệu đồng);

18. Ngày 07/8/2021: H mua số đề hết 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền đề và 100 điểm lô tương đương 8.000.000đ (tám triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 07/8/2021 là 16.700.000đ (mười sáu triệu bảy trăm nghìn đồng);

19. Ngày 08/8/2021: H mua số đề hết 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) và 290 điểm lô tương đương 6.670.000đ (sáu triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 08/8/2021 là 7.570.000đ (bảy triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng);

20. Ngày 09/8/2021: H mua số đề hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 200 điểm lô tương đương 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 150 điểm lô tương đương 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 09/8/2021 là 17.300.000đ (mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng);

21. Ngày 10/8/2021: H mua số đề hết 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 10/8/2021 là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng);

22. Ngày 11/8/2021: H mua số đề hết 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) và 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). H trúng thưởng 75 điểm lô tương đương 6.000.000đ (sáu triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 11/8/2021 là 12.850.000đ (mười hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng);

23. Ngày 12/8/2021: H mua số đề hết 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) và 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). H trúng thưởng 100 điểm lô tương đương 8.000.000đ (tám triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 12/8/2021 là 14.550.000đ (mười bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng);

24. Ngày 13/8/2021: H mua số đề hết 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) và 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). H trúng thưởng 7.000.000đ (bảy triệu đồng) tiền đề và 75 điểm lô tương đương 6.000.000đ (sáu triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/8/2021 là 19.650.000đ (mười chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng);

25. Ngày 14/8/2021: H mua số đề hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 300 điểm lô tương đương 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 14/8/2021 là 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng);

26. Ngày 15/8/2021: H mua số đề hết 1.050.000đ (một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) và 300 điểm lô tương đương 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 125 điểm lô tương đương 10.000.000đ (mười triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 15/8/2021 là 17.950.000đ (mười bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng);

27. Ngày 16/8/2021: H mua số đề hết 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 16/8/2021 là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng);

28. Ngày 17/8/2021: H mua số đề hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 75 điểm lô tương đương 6.000.000đ (sáu triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 17/8/2021 là 12.450.000đ (mười hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng);

29. Ngày 18/8/2021: H mua số đề hết 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) và 400 điểm lô tương đương 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 18/8/2021 là 10.000.000đ (mười triệu đồng);

30. Ngày 19/8/2021: H mua số đề hết 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) và 400 điểm lô tương đương 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 50 điểm lô tương đương 4.000.000đ (bốn triệu đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 19/8/2021 là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);

31. Ngày 20/8/2021: H mua số đề hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 400 điểm lô tương đương 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng). H không trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 20/8/2021 là 9.900.000đ (chín triệu chín trăm nghìn đồng);

32. Ngày 21/8/2021: H mua số đề hết 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) và 500 điểm lô tương đương 11.500.000đ (mười một triệu năm trăm nghìn đồng). H trúng thưởng 100 điểm lô tương đương 8.000.000đ (tám trăm nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc trong ngày 21/8/2021 là 20.100.000đ (hai mươi triệu một trăm nghìn đồng);

Tổng số tiền L được hưởng lợi là 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng)

Ngoài việc ghi số lô, số đề với L, ngày 22/8/2021, H nhắn tin qua ứng dụng zalo mua số lô, số đề với một người sử dụng tài khoản zalo có tên "T" 250 điểm lô tương đương 5.750.000đ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài việc mua số lô, số đề với L và "T", H còn giúp một người sử dụng tài khoản zalo tên "Bùi Đức T" mua số lô tại các đại lý bán vé xổ số ở khu vực thị trấn Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình 02 ngày, trong đó ngày 14/12/2021 mua 100 điểm lô tương đương 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng); ngày 21/12/2021 mua 140 điểm lô tương đương 3.220.000đ (ba triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKSTP ngày 10/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L về tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Trần Ngọc H về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo L khai nhận đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng số tiền là 55.254.000đ (năm mươi năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng), trong đó có số tiền hưởng lợi bất chính là 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo H khai nhận đã sử dụng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020, là tài sản của bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội nên không có ý kiến gì. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng để sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L, Trần Ngọc H về tội danh, điều luật như đã nêu trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội Tổ chức đánh bạc. Về hình phạt chính: đề nghị phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L từ 65 đến 75 triệu đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội Đánh bạc. Về hình phạt chính: đề nghị phạt tiền bị cáo Trần Ngọc H từ 60 đến 70 triệu đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị xử:

Tịch thu phát mại sung quỹ nH nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

Buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp lại số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự vào ngày 27/4/2023.

Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo H mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được tiếp tục ở ngoài xã hội lao động và cải tạo bản thân. Bị cáo L không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Từ 28/12/2020 đến 22/8/2021, Trần Ngọc H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số lô, số đề 27 lần với tổng số tiền 365.270.000đ (ba trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Ngày đánh bạc có số tiền thấp nhất là ngày 03/01/2021 và 04/8/2021 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), ngày đánh bạc có số tiền cao nhất là ngày 03/8/2021 số tiền 45.400.000đ (bốn mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Từ 28/12/2020 đến 21/8/2021, Nguyễn Thị Hoàng L có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề 26 lần cho Trần Ngọc H với tổng số tiền 359.520.000đ (ba trăm năm mươi chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) qua tin nhắn tài khoản zalo nhằm mục đích được thua bằng tiền, lấy kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ để trả thưởng. Trong đó có 04 ngày có số tiền từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) trở lên. Ngày có số tiền thấp nhất là ngày 03/01/2021 và 04/8/2021 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), ngày có số tiền cao nhất là ngày 03/8/2021 số tiền 45.400.000đ (bốn mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo hưởng lợi bất chính là 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

Hnh vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Hnh vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đích thu lợi bất chính.

Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đã nhiều lần tổ chức đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề nhằm mục đích thu lợi bất chính, thu tiền chênh lệch từ việc ghi số lô, số đề, trong đó có 04 ngày có số tiền từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) trở lên. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Trần Ngọc H thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số lô, số đề nhằm mục đích hưởng lợi bất chính. Trong đó ngày đánh bạc số tiền thấp nhất là 5.000.000đ (năm triệu đồng), ngày đánh bạc có số tiền cao nhất với số tiền 45.400.000đ (bốn mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Trần Ngọc H đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét tính chất, mức độ của Hnh vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong cộng đồng dân cư và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo mang tính nghiêm trọng, có quy mô lớn nên cần có hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo L là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo H không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Ngày 11/8/2022 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi Cố ý gây thương tích. Tính đến thời điểm xét xử chưa hết thời hạn được coi chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo L đã tự nguyện nộp số tiền là 55.254.000đ (năm mươi năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) và bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng để sung quỹ Nhà nước. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có hành vi đánh bạc và bị cáo L có hành vi tổ chức đánh bạc trong nhiều ngày nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L thuộc trường hợp nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo sẽ đảm bảo việc xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo L có nhân thân tốt, có ý thức tự cải tạo bản thân, có nơi ở và nghề nghiệp ổn định, khoản lợi bất chính mà bị cáo có được từ hành vi phạm tội không lớn. Bị cáo đã nộp số tiền 55.254.000đ (năm mươi năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo mà việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo Trần Ngọc H là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, hành vi đánh bạc bị cáo thực hiện trước thời điểm bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hơn nữa bị cáo là lao động chính trong gia đình, lao động có thu nhập nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà việc áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, do đã áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu đen (màn hình cảm ứng), điện thoại cũ đã qua sử dụng, xét thấy đây là công cụ, phương tiện bị cáo H dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nH nước.

Đối với số tiền mà bị cáo L được hưởng lợi từ việc ghi lô, đề với số tiền là 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Xét thấy, đây là khoản thu lợi bất chính có được từ việc phạm tội nên cần buộc bị cáo phải nộp lại khoản tiền trên để sung nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo L đã nộp lại số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự vào ngày 27/4/2023.

Các ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về các vấn đề khác:

Đối với chủ đề đến nhận bảng đề với L và người sử dụng tài khoản zalo có tên "T", "Bùi Đức T", cơ quan điều tra hiện đang tiếp tục xác minh và sẽ giải quyết khi có đủ căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội Tổ chức đánh bạc.

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L 70 (Bảy mươi) triệu đồng.

(Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đã nộp số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo biên lai số 0003432 ngày 27/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Trần Ngọc H phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt: phạt tiền bị cáo Trần Ngọc H 60 (Sáu mươi) triệu đồng.

(Xác nhận bị cáo Trần Ngọc H đã nộp số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) theo biên lai số 0003469 ngày 07/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).

2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu đen (màn hình cảm ứng), điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 12/4/2023.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phải nộp lại số tiền 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đã nộp đủ số tiền 5.254.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai số 0003432 ngày 27/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L, Trần Ngọc H mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ