vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 89, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/6/2021 của Chi cục thi hành án dân…

Về dân sự: p dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự bị cáo Vũ Hữu C phải bồi thường cho bị hại cháu Bùi Thị Huyền T số tiền 20.000.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ hữu cương - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 89, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/6/2021 của Chi cục thi hành án dân…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày 13-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Nghề nghiệp: Giáo viên.

2. Bà Nguyễn Thị Vân.

Nghề nghiệp: Giáo viên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Quang Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 79/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2021/HSST-QĐ ngày 02 tháng 7 năm 2021đối với bị cáo:

Vũ Hữu C, sinh năm 1995; nơi sinh: tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; con ônng Vũ Hữu V và bà Lê Thị H; gia đình có 04 anh em, C là con út; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2021; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 09/02/2007; địa chỉ: Thôn 5, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1985 và bà Điệp Thị H, sinh năm 1989 ( là bố mẹ đẻ của cháu Bùi Thị Huyền T); địa chỉ: Thôn 5, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; bà H vắng mặt; ông H có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Bùi Văn B – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2020, Công an xã A tiếp nhận đơn trình báo của gia đình cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 09/02/2007, nơi cư trú: thôn 5, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng về việc đối tượng Vũ Hữu C có hành vi dùng tay sờ, nắn, bóp vào vùng ngực, bụng cháu T vào các ngày 18/12/2020 và 19/12/2020.

Nhận được trình báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường xảy ra vụ việc là khu vực phòng khách và phòng ngủ nhà anh Bùi Văn H, sinh năm 1985 ở thôn 5, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng (là bố đẻ của cháu T). Cháu T đã giao nộp 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand (là áo cháu T đang mặc khi xảy ra sự việc).

Triệu tập Vũ Hữu C đến Cơ quan điều tra, C khai nhận: Do quen biết với anh Bùi Văn H là bố đẻ cháu T nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2020, C điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 15AF-093.05 đến nhà anh H chơi. Khi C đến nhà có bà Tô Thị Bấm, sinh năm 1960 (bà nội cháu T) và cháu T đang ở nhà. C đứng nói chuyện với bà Bấm khoảng 05 phút thì bà Bấm lấy xe đạp ra khỏi nhà. C lên phòng khách nhà anh H thì thấy T đang ngồi trên thành ghế gỗ ở phòng khách xem tivi. C đến ngồi cạnh và bảo T lại gần nói chuyện. Khi T đến đối diện cách vị trí C ngồi khoảng 40-50cm, C dùng tay phải cầm cổ tay phải T, tay trái ôm eo kéo xoay T ngồi lên đùi mình, mặt T quay hướng ra ngoài, lưng T áp sát mặt C. Sau đó, C dùng hai tay ôm vào eo cháu T qua áo ngoài được khoảng 02-03 phút thì T đẩy tay C ra và bỏ chạy vào khu vực phòng ngủ ngồi xuống mép giường. C đi theo dùng hai tay đẩy làm T nằm ngửa xuống giường, C ngồi xuống giường kéo T ngồi dậy, tay phải quàng qua vai trái, tay trái cầm vào cổ tay phải T, T giằng ra rồi đi ra phòng khách. C tiếp tục đi theo ngồi xuống ghế tại phòng khách, tay phải cầm cổ tay phải T, tay trái ôm eo kéo xoay T ngồi lên hai đùi C. Tay trái C quàng qua vai trái sờ, nắn, bóp vào vùng ngực bên phải qua áo ngoài của T, tay phải C luồn qua áo ngoài sờ vào vùng bụng và định sờ, nắm, bóp ngực bên trái (vú) của T nhưng bị T kẹp giữ tay lại. Sau khi thực hiện hành vi sờ, nắn, bóp ngoài áo vào vùng ngực của T được khoảng 03- 05 phút thì T đẩy C ra rồi chạy ra ngoài sân. Sau đó C lấy xe máy rời khỏi nhà T.

Ngoài ra, C còn khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2020, C cùng anh Bùi Văn Lợi, sinh năm 1985, nơi cư trú: xã Quảng Thanh, huyện T, thành phố Hải Phòng đến nhà anh H để làm hộ việc bê đất từ ngõ vào trong vườn. Sau khi xong việc, C và anh Lợi ở lại ăn cơm trưa cùng gia đình anh H rồi ra về. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, C quay lại nhà anh H, thấy anh H đang ngủ tại giường ở phòng khách, cháu T đang soạn sách vở trong phòng ngủ, C đi vào thấy T ngồi xổm trên nền nhà nên ngồi xuống phía sau lưng T, hai tay C luồn qua nách T, tay phải sờ, nắn, bóp vào ngực bên phải (vú phải) T, tay trái sờ, nắn, bóp ngực bên trái T (vú trái) qua lớp áo ngoài. C thực hiện hành vi như trên khoảng 05 phút thì bị T đẩy ra để đi học.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 41/2021/TD ngày 26/01/2021 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Bùi Thị Huyền T có thể trạng trung bình cân đối, không có dấu vết thương tích trên cơ thể và bộ phận sinh dục của nạn nhân; màng trình còn nguyên vẹn; trong âm đạo không có xác tinh trùng; hiện nạn nhân không có thai.

Bản Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2021của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Vũ Hữu C về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố Vũ Hữu C về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 146; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hữu C từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về dân sự: Bị Vũ Hữu C phải bồi thường cho bị hại cháu Bùi Thị Huyền T số tiền 20.000.000 đồng. Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bầy: Đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

Người đại hợp pháp của bị hại đề nghị xử lý bị cáo nghiêm theo pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Hữu C khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Vũ Hữu C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện theo đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Bị cáo khai vào các ngày 18/12/2020 và 19/12/2020, Vũ Hữu C có hành vi dùng tay sờ, nắn, xoa bóp vào vùng ngực, bụng của cháu Bùi Thị Huyền T, khi đó cháu T 13 tuổi 10 tháng 10 ngày, không nhằm mục đích giao cấu hay thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với cháu T. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Hữu C phạm tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi quy định tại điểm b (Phạm tội nhiều lần) khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số 89/CT-VKSTN ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo như đã nêu trên là đúng người, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền của trẻ em được pháp luật bảo vệ, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần đối với trẻ em; gây bất an và bị lên án mạnh mẽ trong dư luận xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân bị cáo, tính chất vụ án và quyết định hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử, xét: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, tuy nhiên tội phạm mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây Hg mang, bức xúc cho người dân và bị cả xã hội lên án; cần phải được xử phạt nghiêm minh để vừa có tác dụng trừng trị, giáo dục người phạm tội, đồng thời góp phần ngăn ngừa tội phạm xâm hại đối với trẻ em, đặc biệt là tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand là vật chứng của vụ án, đại diện của bị hại không đề nghị được nhận lại nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

. Về dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho cháu Huyền số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bị hại trong thời hạn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 146; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử: Phạt bị cáo Vũ Hữu C 04 (Bốn) năm tù về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 30/3/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 89, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông nữ dài tay màu vàng, phía trước áo có dòng chữ Coffee Sand (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng).

3. Về dân sự: p dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự bị cáo Vũ Hữu C phải bồi thường cho bị hại cháu Bùi Thị Huyền T số tiền 20.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Vũ Hữu C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 (Một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo Vũ Hữu C phải nộp 1.200.000 đồng án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bị hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ