- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TU bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày 30 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung
Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký TAND huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang .
Đại diện VKSND huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn T -Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/HS- ST ngày 23/7/2021 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể, không. Con ông Bùi Văn Thắng và bà Chu Thị Tuyết. Bị cáo có 02 anh em ruột, bản thân là con thứ 02 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con
Tiền án: Không
Tiền sự:
+ Ngày 09/3/2021, T bị Công an huyện Lục Nam xử phạt hành chính (phạt
tiền 750.000 đồng) về hành vi "Môi giới mại dâm và chứa mại dâm". Chấp
hành xong ngày 27/4/2021.
+ Ngày 11/3/2021, T bị Công an huyện Lục Nam xử phạt hành chính (phạt
tiền 350.000 đồng) về hành vi "Mua số lô, số đề trái phép". Chấp hành xong
ngày 11/3/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2021 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lục Nam có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Bùi Văn T, sinh năm 1990 ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Anh Khúc A, sinh năm 1985 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Chàng, TT Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1999 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Trại Đáng, xã Tam Dị, huyện, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 40 phút ngày 08/4/2021, tại khu vực nút giao giữa đường quốc lộ 31 và đường liên thôn thuộc thôn Phương Lạn 5, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã Phương Sơn tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Bùi Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác thu giữ tại túi quần bên trái phía trước đang mặc của Bùi Văn T 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa màu trắng bên trong đựng 01 viên nén màu hồng đỏ (nghi là ma túy tổng hợp). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave α, màu sơn xám, biển kiểm soát 29H1-065.64, số khung: RLHHC12XDY285464, số máy: HC12E5285569, 01 điện thoại Iphone 5S màu đen - xám (đã qua sử dụng số tiền 630.000 đồng, 02 dụng cụ tự chế bằng kim loại cán cầm hình vuông được hàn thanh kim loại được mài sắc nhọn một đầu dài là 15cm. Tổ công tác đã niêm phong tại chỗ 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa màu trắng bên trong đựng 01 viên nén màu hồng đỏ (nghi là ma túy tổng hợp) vào phong bì thư ký hiệu "QT" gửi giám định, đồng thời đưa Bùi Văn T cùng tang vật về trụ sở Công an xã Phương Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tổ công tác đã test nhanh ma túy đối với Bùi Văn T. Kết quả: T dương tính với chất ma túy Methamphetamine và Amphetamine .
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn T ở thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Quá trình khám xét tại phòng ngủ của Bùi Văn T phát hiện và thu giữ gồm:
Thu giữ tại bên trong áo khoác màu đen (tại vị trí vết rách cạnh túi ngực) treo trên cửa sổ bên trong đựng 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng có chữ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp), bên ngoài vỏ bao thuốc lá được cuốn bằng 02 dây chun nịt màu hồng và tím.
Thu giữ 01 cân tiểu ly màu xám, 01 nắp chai màu vàng gắn với cóong thủy tinh trong túi đựng quần áo và ống hút nhựa màu trắng đựng trong túi ngực áo khoác.
Tổ công tác đã tiến hành niêm phong tại chỗ 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng có chữ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng được hàn kín hai đầu, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp), bên ngoài vỏ bao thuốc lá được cuốn bằng 02 dây chun nịt màu hồng và tím vào phong bì thư ký hiệu "KX" gửi giám định.
Quá trình điều tra, Bùi Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 07/4/2021, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave α, màu sơn xám, biển kiểm soát 29H1-065.64 đến nhà Khúc Ngọc A (tên thường gọi là I), sinh năm 1985 ở Tổ dân phố Chàng, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (là bạn của T) để rủ Ngọc A đi chơi nhưng Ngọc A không đi, lúc này Ngọc A đang ngồi trong giường nói với T "thôi anh không xuống được, anh cho mày cái này" rồi ném qua cửa sổ cho T 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 01 viên nén màu hồng (T khai là ma túy ngựa), T nhặt túi nilon đựng ma túy lên và nói "em xin em đi về"
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29H1-065.64 chở Nguyễn Thị U, sinh năm 1999, trú tại thôn Trại Đáng, xã Tam Dị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (là bạn gái T) đi từ nhà chị U sang cửa hàng điện thoại "Tuấn Hương" ở Tổ dân phố Phố, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để sửa điện thoại và hẹn ngày hôm sau lên lấy, sau đó T điều khiển xe chở chị U về, khi về đến đầu cầu Lục Nam thì T đỗ lại rồi bảo chị U đợi ở đầu cầu còn T đi bộ xuống khu vực gầm cầu gặp người tên Xuân (T khai không biết địa chỉ cụ thể ở đâu) và hỏi mua của Xuân 200.000 đồng tiền ma túy, Xuân đồng ý và bán cho T 200.000 đồng tiền ma túy. T nhận của Xuân 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy và cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi lên cầu điều khiển xe mô tô chở chị U về. Sau khi về nhà, T bỏ số ma túy trên ra rồi dùng cóong thủy tinh và ống hút nhựa sử dụng hết.
Khoảng 11 giờ ngày 08/4/2021, T lấy viên ma túy màu hồng (T khai là ma túy ngựa) đựng trong túi nilon màu trắng mà Khúc A cho rồi bẻ một nửa viên ma túy ra và sử dụng, một nửa viên còn lại T cất lại vào túi nilon màu trắng rồi để vào túi quần bên trái phía trước đang mặc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29H1-065.64 đi theo đường quốc lộ 31 từ nhà lên cửa hàng "Tuấn Hương" lấy điện thoại, khi T điều khiển xe đến khu vực nút giao giữa đường quốc lộ 31 và đường liên thôn thuộc thôn Phương Lạn 5, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì bị Tổ công tác công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã Phương Sơn kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật như đã nêu ở trên.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam, Bùi Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 23/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố Bùi Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND huyện Lục Nam đã đề nghị HĐXX: TU bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:
Bùi Văn T từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/4/2021. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
Tịch thu, tiêu hủy; 01 biển kiểm soát 29H1-065.64; 02 dụng cụ tự chế bằng kim loại, cán cầm hình vuông được hàn thanh kim loại được mài sắc nhọn một đầu có chiều dài là 15cm; 01 cân tiểu ly màu xám, 01 nắp chai màu vàng gắn với cóong thủy tinh; ống hút nhựa màu trắng; 01 áo khoác vải màu đen, mặt trong của áo có vết rách tại vị trí cạnh túi ngực và 02 phong bì thư ký hiệu "QT", "KX" chứa mẫu vật ma túy.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave α, màu sơn xám, số khung: RLHHC12XDY285464, số máy: HC12E5285569 cho anh Bùi Văn T:
Trả lại bị cáo T 01 điện thoại Iphone 5S màu đen - xám (đã qua sử dụng) số tiền 630.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi của mình, không tranh luận gì với quan điểm luận tội, buộc tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến gì và tha thiết xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định bị cáo phạm tội: Từ những phân tích đánh giá các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi mà bị cáo thực hiện như sau: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 08/4/2021, tại khu vực nút giao giữa đường quốc lộ 31 và đường liên thôn thuộc thôn Phương Lạn 5, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã Phương Sơn tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Bùi Văn T, sinh năm 1992 trú tại thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,06 gam ma túy, loại Methamphetamine. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn T ở thôn Kẻn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thu giữ 15,979 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Tổng khối lượng ma túy Bùi Văn T tàng trữ trái phép được xác định là: 16,039 gam ma túy loại Methamphetamine
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai của bị cáo, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang do cơ quan công an huyện Lục Nam lập ngày 08/4/2021 cùng vật chứng thu giữ được, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS, bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 23/7/2021 của VKSND huyện Lục Nam truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền quản lý của nhà nước về loại dược phẩm có tính chất gây nghiện mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương và là ngU nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp của..... làm băng hoại các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, làm suy giảm sức khoẻ, giống nòi, gây nên các loại bệnh nguy hiểm như HIV, AIDS,…, ảnh hưởng đến sức khoẻ, kinh tế của bị cáo và gia đình. Do vậy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Từ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo T chưa có tiền án nhưng có 2 tiền sự bố mẹ bị cáo đã mất bị cáo không chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước mà ăn chơi lêu lổng đua đòi dính vào tệ nạn xã hội do vậy cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, xong cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS phạt bị cáo T một khoản tiền để sung công quỹ nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
HĐXX xét thấy cần tịch thu tiêu hủy: 01 biển kiểm soát 29H1-065.64, 02 dụng cụ tự chế bằng kim loại, cán cầm hình vuông được hàn thanh kim loại được mài sắc nhọn một đầu có chiều dài là 15cm, 01 cân tiểu ly màu xám, 01 nắp chai màu vàng gắn với cóong thủy tinh, ống hút nhựa màu trắng, 01 áo khoác vải màu đen, mặt trong của áo có vết rách tại vị trí cạnh túi ngực và 02 phong bì thư ký hiệu "QT", "KX" chứa mẫu vật ma túy.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại wave α, màu sơn xám, số khung RLHHC12XDY285464, số máy HC12E5285569 cho anh Bùi Văn T:
Trả lại bị cáo T 01 điện thoại Iphone 5S màu đen-xám (đã qua sử dụng) số tiền 630.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Đối với Khúc Ngọc A (tên thường gọi là I), sinh năm 1985 ở Tổ dân phố Chàng, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang T khai nguồn gốc số ma túy là do Khúc Ngọc A cho, mục đích để sử dụng. Tuy nhiên, Khúc A không thừa nhận nội dung trên, Cơ quan điều tra đã cho T và A đối chất nhưng cả T và A đều giữ lời khai. Kết quả điều tra không đủ căn cứ xác định Khúc Ngọc A cho T ma túy như T khai, do vậy không xử lý với Khúc A là có căn cứ.
Người thanh niên tên Xuân đã bán ma túy cho T, quá trình điều tra T khai không biết địa chỉ cụ thể ở đâu HĐXX không xem xét.
Chị Nguyễn Thị U đi cùng Bùi Văn T tối ngày 07/4/2021, quá trình điều tra xác định khi đi cùng T, chị U không biết T đi mua ma túy nên HĐXX xác định là không liên quan đến việc tàng trữ ma túy của T.
Đối với Bùi Văn T cho bị cáo T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave α, màu sơn xám xe lắp biển kiểm soát 29H1-065.64 để T đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định anh T không biết T mượn xe mô tô để làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại chiếc xe trên cho anh T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. TU bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, BLHS; các Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
2. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 06 ( sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/4/2021. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
Tịch thu, tiêu hủy: 01 biển kiểm soát 29H1-065.64, 02 dụng cụ tự chế bằng kim loại, cán cầm hình vuông được hàn thanh kim loại được mài sắc nhọn một đầu có chiều dài là 15cm; 01 cân tiểu ly màu xám, 01 nắp chai màu vàng gắn với cóong thủy tinh; ống hút nhựa màu trắng; 01 áo khoác vải màu đen, mặt trong của áo có vết rách tại vị trí cạnh túi ngực và 02 phong bì thư ký hiệu "QT", "KX" chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại wave α, màu sơn xám, số khung: RLHHC12XDY285464, số máy: HC12E5285569 cho anh Bùi Văn T, sinh năm 1992 địa chỉ Thôn Kẻn xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang:
Trả lại bị cáo T 01 điện thoại Iphone 5S màu đen-xám (đã qua sử dụng) số tiền 630.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án.
Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Bắc Giang; - - VKSND tỉnh Bắc Giang; - - VKSND huyện Lục Nam; - - Chi cục THADS huyện Lục Nam; - - Công an huyện Lục Nam; - - Bị cáo; - - UBND nơi bị cáo cư trú; - - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |