vanban.org

Bản án 75/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Tiêu Trường T2 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.

Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu Trường Thịnh - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Tiêu Trường T2 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2026/HS-ST
Ngày 03-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lý Thường Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Huy Hoàng.

Ông Đặng Văn Ẩn.

Thư ký phiên tòa: ông Phan Trọng Tường – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Tiêu Trường T2, sinh năm 2001 tại Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ); giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp B, phường Đ, thành phố Cần Thơ); chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Tiêu Hùng C và bà Đoàn Thị Bé S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa;

2. Lâm Hoàng M, sinh năm 1992 tại Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ); giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ); chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lâm Văn T và bà Trần Thị Bé H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa;

3. Trương Văn L, sinh năm 1990 tại Kiên Giang (nay là An Giang); giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: Tổ E, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (nay là Tổ E, ấp B, xã V, tỉnh An Giang); chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trương Văn C1 và bà Lê Thị Y; bị cáo có vợ và 02 người con, sinh năm 2011 và 2013; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa;

4. Tiêu Trường A, sinh năm 2000 tại Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ); giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp B, phường Đ, thành phố Cần Thơ); chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Tiêu Hùng C và bà Đoàn Thị Bé S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 25/3/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 03/HSST; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1966 – (vắng mặt).

Nơi cư trú: A Đ, phường K, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 16/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B phối hợp với Công an xã T, huyện B (nay là Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh) kiểm tra cư trú tại phòng trọ thuộc địa chỉ: D Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: D1/13 Ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh) phát hiện Tiêu T, Lâm Hoàng M và Tiêu Trường A đang tổ chức sử dụng ma túy, thu giữ trên nền gạch vị trí T2 ngồi 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 nỏ thủy tinh, kết quả giám định không xác định được khối lượng do mẫu vật quá ít và 01 bật lửa gas nên Cơ quan công an tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và đưa T2, M và A về trụ sở để điều tra làm rõ.

Ngày 30/12/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết luận giám định số 471/KL-KTHS kết luận: Bên trong ống thủy tinh chứa tinh thể ký hiệu m, không xác định được khối lượng do mẫu quá ít, không tìm thấy ma túy.

Kết quả điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 16/12/2024, Tiêu Trường T2 và Lâm Hoàng M đang ở phòng trọ tại địa chỉ: D Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: D1/13 Ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì T2 rủ M mua ma túy về sử dụng, M đồng ý. T2 dùng tài khoản Momo số 0901237638 chuyển đến tài khoản Momo số 0866494274 của M 450.000 đồng để M đi mua ma túy và đồ ăn. Do không có xe nên T2 lấy điện thoại của M gọi cho Trương Văn L để hỏi mượn xe đi mua ma túy và rủ L đến cùng sử dụng, L đồng ý. Khoảng 30 phút sau, L chạy xe đến đầu hẻm nhà T2 tại Ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh thì M ra nhận xe rồi đi mua ma túy còn L đi bộ vào trong nhà ngồi chơi, cùng lúc này A vừa đi ra ngoài về tới nhà. M điều khiển xe mô tô biển số 52Z3-3820 của L đến khu vực cổng chào huyện B, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) gặp người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá, trên đường về M đổ xăng hết 20.000 đồng và mua 130.000 đồng đồ ăn. Về đến nhà M đưa ma túy cho T2, T2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất sẵn trong phòng và đổ hết ma túy vào nỏ, dùng bật lửa đốt và hút 05 hơi rồi để xuống nền nhà. M cầm bộ dụng cụ lên đốt và hút 02 hơi rồi đến lượt L cầm lên để hút, nhưng L không biết cách sử dụng nên A cầm lấy bộ dụng cụ và dùng bật lửa gas đốt cho L hút 01 hơi, sử dụng xong L lấy xe đi về nhà. Tiếp đó, A cầm bộ dụng cụ hút 02 hơi, T2 hút 01 hơi và M hút 01 hơi thì hết ma túy, sau đó cả ba ngồi nghỉ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với các bị cáo Tiêu Trường T2, Lâm Hoàng M, Trương Văn L và Tiêu Trường A là dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 (một) bình nhựa không màu có nắp màu hồng gắn ống hút nhựa màu trắng cam và ống thủy tinh, 01 (một) bật lửa bằng nhựa bên trong có hai hột xí ngầu màu xanh và vàng.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s, số Imei: 358176102170244 thu giữ của Tiêu T không sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3X, số Imei: 866986072902334 thu giữ của Tiêu Trường T2 sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12s 2021 có số Imei: 8665652057095574 thu giữ của Tiêu Trường A, không sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10, số Imei: 357966104456091 thu giữ của Lâm Hoàng M sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 xe mô tô hiệu Wave 110, biển số: 52Z3-3820, số khung: VHLPCG0022HO11441, số máy: 1P50FMG-320294887, thu giữ của Trương Văn L. Qua xác minh, xe trên do bà Nguyễn Thị Thanh T1 đứng tên giấy đăng ký xe, hiện bà T1 không cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. L khai nhận mua xe trên vào tháng 9/2024 với giá 4.200.000 đồng tại cửa hàng xe máy nhưng không nhớ tên và địa chỉ, có lập hợp đồng mua bán nhưng đã thất lạc, ngày 16/12/2024 L đưa xe cho M đi mua ma túy về để cả nhóm cùng sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có ai liên hệ để giải quyết.

Tại Cáo trạng số: 105/CT-VKS-HS ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo:

- Tiêu Trường T2, Lâm Hoàng M và Trương Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tiêu Trường A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

+ Xử phạt bị cáo Tiêu Trường T2 từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng M từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Trương Văn L từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

+ Xử phạt bị cáo Tiêu Trường A từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bình nhựa không màu có nắp màu hồng gắn ống hút nhựa màu trắng cam và ống thủy tinh, 01 (một) bật lửa bằng nhựa bên trong có hai hột xí ngầu màu xanh và vàng.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3X, số Imei: 866986072902334 thu giữ của Tiêu Trường T2 sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10, số Imei: 357966104456091 thu giữ của Lâm Hoàng M sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Tiêu Trường A: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y12s 2021 có số Imei: 8665652057095574.

- Trả lại cho bị cáo Tiêu Trường T2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s, số I: 358176102170244.

- Giao Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Wave 110, biển số: 52Z3-3820, số khung: VHLPCG0022HO11441, số máy: 1P50FMG-320294887. Nếu không ai đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi như nội dung vụ án nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 16/12/2024, tại địa chỉ: D Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: D1/13 Ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh), Tiêu Trường T2, Lâm Hoàng M, Trương Văn L có hành vi bàn bạc, cùng thống nhất T2 là người cung cấp bộ dụng cụ, địa điểm và đưa tiền để M đi mua ma túy. M sử dụng xe mô tô biển số 52Z3-3820 do L cung cấp để đi mua ma túy về cho cả nhóm gồm: T2, M, L và Tiêu Trường A cùng sử dụng. Tiêu T có hành vi cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy và dùng bật lửa đốt ma túy cho L sử dụng. Do đó, T2, M, L và A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

- Các bị cáo Tiêu Trường T2, Lâm Hoàng M và Trương Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Bị cáo Tiêu Trường A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo Tiêu Trường T2, Lâm Hoàng M và Trương Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Đối với bị cáo Tiêu Trường A: ngày 25/3/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 03/HSST. Tính đến lần phạm tội này, bị cáo A chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Xét về nhân thân, bị cáo A có nhân thân xấu như lý lịch đã nêu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:

- Đối với: 01 (một) bình nhựa không màu có nắp màu hồng gắn ống hút nhựa màu trắng cam và ống thủy tinh, 01 (một) bật lửa bằng nhựa bên trong có hai hột xí ngầu màu xanh và vàng, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3X, số Imei: 866986072902334 thu giữ của Tiêu Trường T2 sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10, số Imei: 357966104456091 thu giữ của Lâm Hoàng M sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y12s 2021 có số Imei: 8665652057095574 thu giữ của Tiêu Trường A, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo A.

- Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s, số Imei: 358176102170244 thu giữ của bị cáo Tiêu Trường T2, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T2.

- Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave 110, biển số: 52Z3-3820, số khung: VHLPCG0022HO11441, số máy: 1P50FMG-320294887, thu giữ của Trương Văn L. Qua xác minh, xe trên do bà Nguyễn Thị Thanh T1 đứng tên giấy đăng ký xe, hiện bà T1 không cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. L khai nhận mua xe trên vào tháng 9/2024 với giá 4.200.000 đồng tại cửa hàng xe máy nhưng không nhớ tên và địa chỉ, có lập hợp đồng mua bán nhưng đã thất lạc, ngày 16/12/2024 L đưa xe cho M đi mua ma túy về để cả nhóm cùng sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có ai liên hệ để giải quyết nên giao Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Wave 110, biển số: 52Z3-3820, số khung: VHLPCG0022HO11441, số máy: 1P50FMG-320294887. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên, không ai đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với người phụ nữ (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Lâm Hoàng M. Do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận ý kiến của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tiêu Trường T2:

- Xử phạt bị cáo Tiêu Trường T2 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm Hoàng M:

- Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng

tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.

3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trương Văn L:

- Xử phạt bị cáo Trương Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2025.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tiêu Trường A:

- Xử phạt bị cáo Tiêu Trường A 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.

5. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bình nhựa không màu có nắp màu hồng gắn ống hút nhựa màu trắng cam và ống thủy tinh, 01 (một) bật lửa bằng nhựa bên trong có hai hột xí ngầu màu xanh và vàng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3X, số Imei: 866986072902334 thu giữ của Tiêu Trường T2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10, số Imei: 357966104456091 thu giữ của Lâm Hoàng M.

- Trả lại cho bị cáo Tiêu Trường A: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y12s 2021 có số Imei: 8665652057095574.

- Trả lại cho bị cáo Tiêu Trường T2: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s, số I: 358176102170244.

- Giao Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe mô tô hiệu Wave 110, biển số: 52Z3-3820, số khung: VHLPCG0022HO11441, số máy: 1P50FMG-320294887. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên, không ai đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(vật chứng trên Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/12/2025 giữa Công an Thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh).

6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ