- Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị Ng kiện đòi nợ chị Nguyễn Thị Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2020/DS -ST Ngày 30 /12/2020 V/v tranh chấp về họ. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Giôn và ông Trần Tuấn Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên
Trong ngày 30/12/2020 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2020/TLST - DS ngày 26/10/2020 về tranh chấp họ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/ 2020/ QĐXX - ST ngày 15/12/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1966
HKTT và trú tại: Xóm C, thôn M, xã M, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963
HKTT và trú tại: Xóm C, thôn M, xã M, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Văn Tr, sinh năm 1985; anh Đào Văn Ch, sinh năm 1987
Đều có HKTT và trú tại: Xóm C, thôn M, xã M, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Bà Ng, bà Th đều có mặt; anh Tr, anh Ch đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ng trình bày:
Do là người cùng xóm, bà Ng có biết bà Th là người đứng ra tổ chức chơi họ, nên bà Ngần có tham gia với bà Thoa 02 dây họ cụ thể như sau:
Dây thứ 1: Mệnh giá 10.000.000/01 tháng, gồm có 12 hội viên, bà Ngần đã đóng cho bà Thoa 11 tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng (từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 (âm lịch)), tổng cộng là 110.000.000 đồng. (Cụ thể bà Ngần trực tiếp đóng cho bà Thoa 09 tháng là 90.000.000 đồng; đóng cho anh Đào Văn Tr 01 tháng là 10.000.000 đồng; anh Đào Văn Ch 01 tháng là 10.000.000 đồng).
Dây thứ 2: Mệnh giá 10.000.000/01 tháng, gồm có 12 hội viên, bà Ng đã đóng trực tiếp cho bà Th 02 tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng (từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2018 (âm lịch)), tổng cộng là 20.000.000 đồng.
Đến tháng 12 năm 2018, Bà Thoa tuyên bố vỡ họ, bà Ngần đã nhiều lần đến gặp bà Th yêu cầu bà Thoa thanh toán cho bà Ngần số tiền mà bà Ngần đã đóng họ cho bà Th, nhưng bà Th không trả cho bà Ngần đồng nào.
Tính đến nay bà Ngần đã đóng cho bà Th tổng số 02 dây họ là 130.000.000 đồng.
Nay bà Ngần yêu cầu bà Nguyễn Thị Th, anh Đào Văn Tr, anh Đào Văn Ch phải thanh toán tiền gốc là 130.000.000.000 đồng và tiền lãi là 26.000.000 đồng. Tổng cộng là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).
Về phía bị đơn, bà Nguyễn Thị Thoa trình bầy:
Bà Thoa bắt đầu cầm họ (chủ họ) từ năm 2004 đến cuối năm 2018, việc đứng chủ họ do một mình bà Thoa làm, chồng và các con bà Thoa không liên quan gì đến việc bà Thoa làm chủ họ. Trong quá trình bà Thoa làm chủ họ thì rất nhiều bà con trong xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên đến tham gia chơi họ do bà Thoa làm chủ. Những người tham gia chơi họ chỉ biết đóng tiền họ cho bà Thoa, không biết những người tham gia cùng chơi họ (cùng dây họ). Việc chơi họ không lập thành văn bản hay hợp đồng gì mà bà Thoa tự ghi vào quyển sổ “Họ cô Thoa Duy” hay “ Họ chị Thoa Duy” vào quyển sổ (quyển sổ này do các người tham gia chơi họ giữ); về lãi xuất chơi họ từ 15 – 20%/tháng. Việc chơi họ không qui định ai là người lấy trước, ai là người lấy sau, mà chỉ qui định ai muốn lấy họ thì thông báo cho bà Thoa trước một tháng để bà Thoa thu sếp tiền trả vào tháng sau. Sau khi những người tham gia chơi họ đóng tiền cho bà Thoa, bà Thoa lại cho người khác lấy họ, bà Thoa cũng có một phần tiền công trong số những người tham gia chơi họ. Số tiền công này bà Thoa sử dụng vào việc chi tiêu trong gia đình.
Trong quá trình bà Nguyễn Thị Thoa làm chủ họ thì có bà Nguyễn Thị Ngần có tham gia chơi họ, cụ thể như sau:
Dây thứ nhất: Mệnh giá 10.000.000/01 tháng, bà Ngần đã đóng cho bà Thoa 11 tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng (từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 (âm lịch)), tổng cộng là 110.000.000 đồng.
Dây thứ 2: Mệnh giá 10.000.000/01 tháng, bà Ngần đã đóng cho bà Thoa 02 tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng (từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2018 (âm lịch)), tổng cộng là 20.000.000 đồng.
Tổng cộng bà Ngần đã đóng cho bà Thoa là 130.000.000 đồng. Hiện nay bà Thoa còn nợ lại bà Ngần 130.000.000 đồng.
Nay bà Ngần yêu cầu bà Nguyễn Thị Thoa, anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi phải trả cho bà Ngần tiền gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi là 26.000.000 đồng. Tổng cộng là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng). Bà Thoa sẽ có trách nhiệm trả bà Ngần, các con bà Thoa là anh Đào Văn Truy, Đào Văn Chi không liên quan gì đến việc bà Thoa làm chủ họ, nên anh Truy, anh Chi không phải trả bà Ngần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi đều trình bầy:
Mẹ đẻ anh Truy, anh Chi là bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1963, ở xóm Cầu, thôn Hòa Mỹ, xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội có làm chủ họ của một số dây họ. Trong quá trình chơi họ thì bà Ngần có đến đóng tiền họ, nhưng vì bà Thoa không có nhà, nên anh Truy, anh Chi mỗi người có nhận của bà Ngần 10.000.000 đồng, tổng cộng 20.000.000 đồng. Sau đó anh Truy, anh Chi có đưa lại cho bà Thoa tổng số là 20.000.000 đồng mà bà Ngần đã đóng cho bà Thoa.
Nay bà Ngần yêu cầu bà Nguyễn Thị Thoa, anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi phải trả tôi tiền gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi là 26.000.000 đồng, tổng là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).Anh Truy, anh Chi từ chối nghĩa vụ phải thanh toán tiền họ của bà Thoa cho bà Ngần.
Sau khi sự việc ra, Công an huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội đã điều tra việc bà Nguyễn Thị Thoa có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức làm chủ họ hay không.
Tại Quyết định không khởi tố vụ án án hình sự số 51/CSĐT – ĐTH ngày 06/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự, không có sự việc phạm tội.
Tại phiên toà: Các đương sự đều giữ nguyên quan điểm của mình và đều đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngần, buộc bà Nguyễn Thị Thoa phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị Ngần tiền gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi là 26.000.000 đồng. Tổng là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngần buộc anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi phải có nghĩa vụ trả tiền họ cho bà Ngần cùng với bà Thoa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định.
Về tố tụng: Mặc dù người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh Truy, anh Chi đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Truy, anh Chi.
Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện về tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự “Họ, hụi, biêu, phường” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các đương sự cùng cư trú trên địa bàn xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Nên theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự cùng xác định bà Nguyễn Thị Thoa làm chủ các dây họ mà bà Nguyễn Thị Ngần đã tham gia chơi họ với bà Thoa. Tính đến nay bà Ngần đã tham gia chơi họ với bà Thoa tổng số 02 dây họ, bà Ngần đã đóng cho bà Thoa tổng số là 130.000.000 đồng. Bà Thoa chưa trả cho bà Ngần đồng nào. Hiện nay bà Thoa còn nợ lại bà Ngần 130.000.000 đồng.
Theo khoản 1 Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên”. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đề xác nhận số tiền nợ nói trên là tiền góp họ mà các bên đã giao dịch. Giao dịch của các bên là hoàn toàn tự nguyện, do đó các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về người trả tiền: Bà Ngần yêu cầu cả bà Thoa, anh Truy, anh Chi phải cùng có nghĩa vụ trả nợ. Phía bà Thoa xác nhận họ là của bà Thoa, nên bà Thoa có nghĩa vụ trả cho bà Ngần; việc bà Thoa tự nguyện trả tiền cho bà Ngần là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, nên Tòa chấp nhận.
Riêng đối với yêu cầu của bà Ngần buộc anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi cùng trả tiền với bà Thoa; Tòa thấy yêu cầu này không đủ cơ sở, mặc dù anh Truy, anh Chi xác nhận có nhận tiền của bà Ngần, xong anh Truy, anh Chi chỉ là người nhận hộ bà Thoa, còn ngoài ra anh Truy, anh Chi không có một giao dịch nào khác. Hơn nữa bà Ngần cũng thừa nhận việc chơi họ như thế nào, lãi xuất ra sao, khi nào đóng, khi nào lấy họ, bà Ngần chỉ giao dịch với bà Thoa, bà Ngần cũng không biết ngoài bà Thoa ra có ai là chủ họ cùng với bà Thoa nữa không, không biết dây họ có những ai; hơn nữa chính bà Ngần không chứng minh được anh Truy, anh Chi hưởng lợi gì từ số tiền của bà Ngần đã đóng cho bà Thoa. Do đó không có căn cứ để Tòa án buộc anh Truy, anh Chi cùng với bà Thoa phải trả nợ cho bà Ngần.
Đối với khoản tiền lãi từ khi bà Ngần đóng tiền họ cho bà Thoa đến nay, quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay hai bên đều thống nhất khoản lãi là 26.000.000 đồng, nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thoa phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Ngần không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị Ngần đã nộp. Do bà Nguyễn Thị Thoa đang gặp hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên giảm 50% án phí dân sự sơ thẩm cho bà Thoa là hợp lẽ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị định số 19/2019/NĐ – Cp ngày 19/02/2019 của Chính phủ về quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.
Buộc bà Nguyễn Thị Th có trách nhiệm trả bà Nguyễn Thị Ng tổng số tiền 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).Trong đó tiền gốc 130.000.000 đồng, tiền lãi 26.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngần buộc anh Đào Văn Truy, anh Đào Văn Chi phải có nghĩa vụ trả tiền họ cho bà Ngần cùng với bà Thoa.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thoa phải chịu 7.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thoa được giảm ½ án phí dân sự sơ thẩm do hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bà Nguyễn Thị Thoa còn phải nộp 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngần 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tạm ứng án phí số AE/2010/0005916 ngày 26/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Thành phố
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Thành phố, huyện
- Chi cục THADS huyện.
- Các đương sự.
( đã ký)
- Lưu hồ sơ + VP.
Lã Phi Hùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố - VKSND thành phố, huyện - Chi cục THADS huyện. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ + VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |